Khuyến nghị đối với Hội KTV hành nghề Việt Nam, Bộ Tài chính và Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Tăng cường các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm trong lập BCTC của các CTNY.

Theo điều 10, nghị định 105/2013 về xử  lý  vi  phạm hành chính trong lĩnh  vực kế toán, kiểm toán độc lập và  văn bản có hiệu lực từ 1/12/2013 của Chính phủ,  có quy định: “phạt tiền từ 20 – 30  triệu đồng đối với hành vi giả mạo BCTC, khai man số liệu trên BCTC, thoả thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo BCTC, khai  man số liệu trên BCTC, thông tin, số liệu công khai BCTC sai sự thật”.  Với mức phạt về việc gian lận về các thông tin trên BCTC là thấp so với mức độ thiệt hại của các hành vi gian lận BCTC gây ra đối với các nhà nhà đầu tư.  Do đó,  Bộ Tài chính  và UBCKNN có thể nâng mức phạt lên gấp 3 lần hoặc bổ sung các chế tài xử lý về mặt hình sự và gắn liền trách nhiệm trực tiếp đối với Ban lãnh đạo của các CTNY   đối với các hành vi gian lận. Mặt khác, UBCKNN cần công bố thật rộng rãi, đẩy  mạnh công tác tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông để các CTNY hiểu rõ  và  nắm đầy đủ hơn các biện pháp chế tài để  họ  phải nghiêm túc tuân thủ quy định

Ngoài ra, Bộ Tài chính cần xem xét sự tách biệt giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và cơ quan lập biên bản xử lý vi phạm hành chính với cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể, các cơ quan có đủ khả năng để kiểm tra các sai phạm về lập BCTC là Bộ Tài chính hoặc UBCK nhưng cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính thuộc về thanh tra viên tài chính các cấp, Chánh thanh tra Sở Tài chính, Chánh thanh tra Bộ Tài chính và Chủ tịch UBND các cấp. Như  vậy,  cơ  quan trực tiếp kiểm tra nhưng không được trực tiếp có thẩm quyền xử lý dẫn đến cơ quan có thẩm quyền xử lý không nắm cụ thể mức độ thiệt hại của các sai phạm trong  lập BCTC tác động người sử dụng thông tin. Vì vậy, mức độ xử phạt có thể không tương xứng với kết quả sai phạm đã phát hiện.

Xây dựng lộ trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các thông tư hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt các chuẩn mực kiểm toán cơ bản trong đó bao gồm chuẩn mực kiểm toán VSA số 240.

Bộ Tài chính và Hội KTV hành nghề Việt Nam cần bổ sung nội dung của VSA số 240 còn sơ sài trong việc hướng dẫn KTV trong việc phát hiện rủi ro có gian lận trong lập kế hoạch kiểm toán BCTC. Cụ thể, đánh giá rủi ro có gian lận và thiết kế thủ tục kiểm toán, lựa chọn các thủ tục kiểm toán hiệu lực đối với từng tình huống gian lận cụ thể tại đơn vị được kiểm toán chưa được hướng dẫn chi tiết và đầy đủ. Bên cạnh đó, nội dung chuẩn mực chưa đề cập việc cách xác định rủi ro có gian lận có sai phạm  trọng đối với cấp độ BCTC và cấp độ CSDL, mối quan hệ giữa rủi ro có gian lận với thiết kế thủ tục kiểm toán. Nội dung chuẩn mực có thể bổ sung phần phụ lục  về các hành vi gian lận phổ biến đối với các khoản mục quan trọng  trong  BCTC và nêu các thủ tục kiểm toán cụ thể đối với từng cách thức gian lận cụ  thể khi KTV đối mặt với  các hình thức gian lận thì có thể thực hiện theo một số thủ tục quan trọng để phát hiện gian lận. Ngoài ra, cần quy định thống nhất việc lập và trình bày BCTC trên cơ  sở chuẩn mực kế toán, tránh việc trình bày vừa trên cơ sở chuẩn mực kế toán vừa trên cơ  sở cơ chế tài chính của Nhà nước hay của riêng doanh nghiệp. Kết quả tại một nghiên cứu cho thấy, việc hạch toán khác biệt giữa chuẩn mực kế toán và cơ chế tài chính (về chênh lệch tỷ giá, về trích lập dự phòng đầu tư chứng khoán,…) tạo ra kẽ hở cho các CTNY có thể lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận BCTC biến lãi thành lỗ hoặc lỗ thành lãi và làm khó khăn cho KTV khi đưa ra ý kiến.

Hội KTV hành nghề Việt Nam cần bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho các KTV độc lập

Thường xuyên xây dựng trong nội dung cập nhật kiến thức cho KTV về các hướng dẫn chi tiết và cụ thể đối với các vấn đề liên quan đến kiểm toán gian lận, thuê các chuyên gia điều tra gian lận hỗ trợ trong việc đào tạo chuyên môn và cập nhật các  kỹ thuật đánh giá rủi ro kiểm toán và rủi ro có gian lận, các thủ tục kiểm toán pháp lý  để phát hiện các tình huống về gian lận thực tế đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam  nhằm giúp cho các KTV cùng trao đổi kinh nghiệm và học hỏi nhằm tránh rủi ro trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán. Định kỳ tổ chức các hội thảo, các buổi tập huấn để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho  nguồn nhân lực kế toán ở  các doanh nghiệp.  Phối hợp với các cơ sở đào tạo để thường xuyên cập nhật thông tin về chế độ kế toán, quy định của thuế, kế toán, kiểm toán cho các đối tượng liên quan đến công tác kế toán của doanh nghiệp.

 UBCKNN cần thành lập Ủy ban giám sát chất lượng về hoạt động kiểm toán BCTC của CTNY

Giám sát chất lượng của hoạt động kiểm toán BCTC của các CTNY là việc quan trọng và nhằm tạo ra thông tin tài chính tin cậy cho các nhà đầu tư tham gia TTCK.  Hiện nay, trách nhiệm giám sát về chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam do Bộ Tài chính ủy quyền cho VACPA thực hiện hàng năm. Tuy nhiên, việc  giám sát của chất lượng kiểm toán của VACPA đối với các  CTKT có đủ điều kiện kiểm toán các CTNY  có những vấn đề bất cập.  Trách nhiệm  của VACPA là bảo vệ quyền lợi của các hội viên của VACPA tức là bảo vệ quyền lợi cho các KTV và các CTKT do Hội chịu trách nhiệm quản lý nhưng VACPA cũng có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trên TTCK. Để tạo niềm tin các nhà đầu tư tham gia TTCK và giải quyết các mâu thuẫn trên, UBCK nên thành lập Ủy ban giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng nói chung và các CTNY nói riêng. Ủy ban giám sát này không nên trực thuộc tổ chức hiệp hội nghề nghiệp mà trực thuộc sự quản lý của UBCK hoạt động độc lập và bảo vệ lợi ích của   các nhà đầu tư trên TTCK. Cơ cấu thành viên trong Ủy ban giám sát phải bao gồm đại diện của nhà đầu tư, các công ty có lợi ích công chúng và thành phần quan trọng chịu trách nhiệm giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán là các KTV  có trình độ nghiệp   vụ chuyên  môn nghiệp  vụ kế toán và kiểm toán, đảm bảo tính độc lập trong việc đưa  ra các quyết định về kết quả kiểm tra và hình thức xử phạt  đối với  các CTKT không  đạt yêu cầu trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán BCTC của các CTNY. Theo kinh nghiệm tại Hoa Kỳ, Ủy ban giám sát hoạt động kiểm toán BCTC của các công ty đại chúng,  định kỳ tiến hành kiểm toán các CTKT có đủ điều kiện kiểm toán các  CTNY nếu CTKT có số lượng Báo cáo kiểm toán phát hành hơn 100 khách hàng và ít nhất 3 năm 1 lần đối với CTKT phát hành ít hơn 100 Báo cáo kiểm toán trong 1 năm. Hiện nay, VACPA chỉ tiến hành kiểm tra hồ sơ kiểm toán đối với CTKT đủ điều kiện kiểm toán các CTNY  là 3 năm một lần. Sau khi tiến hành kiểm tra,  Ủy ban giám sát  bắt buộc phải công bố kết quả kiểm tra và các hình thức xử phạt  đối với CTKT và  KTV đã không tuân thủ theo quy định của UBCK  và  chuẩn mực nghề nghiệp trong  quy trình kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán.

UBCK phải yêu cầu các CTNY công bố và giải trình về quản trị công ty, biến động thông tin trên BCTC

Theo thông lệ quốc tế, BCTC của các CTNY còn bắt buộc công bố báo cáo thường niên về quản trị công ty theo tiêu chí được UBCK quy định. Báo cáo này được lập bởi các CTNY và được đánh giá độc lập bởi CTKT. Hệ thống  báo cáo quản  trị  giúp các CTNY hoàn thiện công tác quản trị công ty tốt hơn theo thông lệ tiên tiến của thế giới, minh bạch hóa hệ thống thông tin và tạo lập môi trường kiểm soát hữu hiệu, hạn chế các gian lận trong công tác quản trị điều hành và báo cáo.

Mặc dù, UBCK đưa ra nghị định và thông tư liên quan việc công bố thông tin. Tuy nhiên, giải trình thông tin biến động của các chỉ tiêu  tài chính tập trung vào chỉ  tiêu lợi nhuận của các CTNY. Theo quy định của UBCK, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp biến động từ 10% so với cùng kỳ báo cáo năm trước, các CTNY phải giải trình cụ thể và chi tiết các nguyên nhân dẫn đến chênh lệch. Thực tế, việc giải trình này  mang tính hình thức và không đầy đủ dẫn đến chất lượng của báo cáo giải trình thấp.  Cụ thể, các CTNY có lợi nhuận sụt giảm hoặc tăng trưởng nhưng đều giải thích các nguyên nhân giống nhau như lợi nhuận gộp tăng, doanh thu tăng và các chi phí giảm,… (Trang Trần, 2014). UBCK cần yêu cầu đơn vị giải trình chi tiết và đầy đủ các thông   tin tạo ra sự chênh lệch trên BCTC qua các kỳ. Bên cạnh đó, UBCK cần bổ sung các  chỉ tiêu biến động trên BCĐKT để nhà đầu tư đánh giá tổng quan về tình hình hoạt  động và tài chính của đơn vị, cũng như các dấu hiệu gian lận BCTC nếu các biến động bất thường không có sự giải trình hợp lý.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận