Lý thuyết bàn cân gian lận và cách vận dụng dựa trên các dấu hiệu báo động đỏ

Lý thuyết nghiên cứu nhân tố tác động đến hành vi gian lận được nghiên cứu  dựa trên lý thuyết bàn cân gian lận với các dấu hiệu báo động đỏ (Red flags) được khởi xướng bởi Romney & cộng sự (1980).

Dấu hiệu báo động đỏ là những biểu hiện tiềm tàng tồn tại trong môi trường   kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định dấu hiệu gian lận và chỉ ra các khả năng tiềm ẩn hành vi gian lận (Romney & cộng sự, 1980).

Romney & cộng sự (1980) đã xây dựng mô hình bàn cân gian lận dựa trên các dấu hiệu báo động đỏ (Red Flags) về sự xuất hiện của gian lận, bao gồm các nhân tố là áp lực, cơ hội và tính liêm chính của nhân viên. Sau đó, Albercht & Romney (1986) sử dụng các dấu hiệu này để nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên trong việc phát hiện gian  lận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 1/3 trong số các dấu hiệu trên có ý nghĩa trong tiên đoán gian lận đó là nhóm nhân tố về áp lực và thái độ của nhà quản lý.

Mô hình bàn cân gian lận (Sơ đồ 2.1) đặc biệt áp dụng để dự báo khả năng xảy  ra hành vi gian lận đối với BCTC, dựa trên 3 yếu tố: áp lực, cơ hội và tính liêm chính. Khi hoàn cảnh tạo ra áp lực, có cơ hội thuận lợi và tính liêm chính của cá nhân thấp thì khả năng xảy ra hành vi gian lận là rất cao.

Theo Albercht & Romney (1986), các dấu hiệu báo động đỏ liên quan áp  lực  của cá nhân như: nợ nần cao, mức sống dưới trung bình, chịu áp lực quá mức từ gia  đình và bạn bè, mong muốn có thu nhập cao, không được ghi nhận thành tích… Các  dấu hiệu báo động đỏ liên quan đến cơ hội như thiếu kiểm soát độc lập trong thực hiện công việc, thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp, thiếu sự giám sát của KSNB, thiếu hướng dẫn rõ ràng về quy định giữa trách nhiệm và quyền hạn… Mục đích công trình nghiên cứu này là chỉ ra các dấu hiệu báo động đỏ quan trọng của ba nhóm nhân tố là áp lực,  cơ hội và tính liêm chính để người quản lý có thể ngăn ngừa và phát hiện khả năng xảy ra hành vi gian lận.

Theo VSA số 240, các dấu hiệu báo động đỏ được đề cập với thuật ngữ “các   yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận” là các sự kiện phản ánh áp lực hoặc động cơ thực   hiện hành vi gian lận. (Bộ Tài chính, 2012).

Các nghiên cứu dựa trên trường phái lý thuyết bàn cân gian lận với các  dấu  hiệu báo động đỏ bao gồm: Công trình nghiên cứu của Romney & cộng sự (1980) đã đưa ra 87 dấu hiệu báo động đỏ để dự báo khả năng gian lận. Sau đó, Albercht & Romney (1986) sử dụng các dấu hiệu này để nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên trong việc phát hiện gian lận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 1/3 trong số các dấu hiệu trên có   ý nghĩa trong tiên đoán gian lận đó là nhóm nhân tố về áp lực và thái độ của nhà quản lý. Tuy nhiên, sự hạn chế của trường phái nghiên cứu này cho thấy khả năng dự đoán trường hợp có hành vi gian lận thông qua dấu hiệu báo động đỏ là thấp do bản chất của cách tiếp cận, các nhân tố của dấu hiệu báo động đỏ có thể xảy ra trong trường hợp có hiện diện gian lận hoặc không có hiện diện gian lận.

Năm 1989, AICPA ban hành SAS số 53 thay thế SAS số 16 đã đưa ra các dấu hiệu báo động đỏ chia thành 3 nhóm nhân tố bao gồm đặc điểm của nhà quản lý, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm của cuộc kiểm toán. Các công trình nghiên cứu tập trung xác định các dấu hiệu báo động đỏ quan trọng tác động đến hành vi gian lận BCTC theo SAS số 53 gồm có: Heiman và cộng sự (1996), Albrecht và Romney (1986), Heiman và cộng sự (1996). Dựa trên kết quả này, Loebbecke & cộng sự (1989) đã tiếp tục phát triển mô hình tiên đoán rủi ro có gian lận và cung cấp bằng chứng rằng gian lận trên BCTC là hệ quả của các nhân tố như động cơ và thái độ. Nhiều nghiên cứu sau đó cũng áp dụng như: Bell & Carcello (2000); Wilks & Zimbelman (2004).

Năm 1997, AICPA tiếp tục ban hành SAS số 82 để sửa đổi những bất cập và    bổ sung thêm các dấu hiệu báo động đỏ so với SAS số 53. Các dấu hiệu báo động đỏ trong SAS số 82 được chia thành 3 nhóm sau: các nhân tố liên quan đến đặc điểm của nhà quản lý; các nhân tố liên quan đến đặc điểm ngành; các nhân tố liên quan đặc điểm hoạt động và sự ổn định của tình hình tài chính. Apostolou và cộng sự (2001), Graham và Bedard (2003) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu khám phá để nhận diện các dấu hiệu báo động đỏ dựa trên SAS số 82. Sau hàng loạt vụ bê bối tài chính tại Mỹ trong năm 2001 và năm 2002, AICPA đã quyết định tiếp tục thay thế SAS số 82  bằng  SAS 99 nhằm bổ sung thêm các dấu hiệu báo động đỏ phù hợp biến đổi của nền kinh tế hiện đại. Lý thuyết này góp phần không nhỏ trong việc xây dựng lên các biến số được coi là nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận BCTC làm cơ sở của các giả thuyết nghiên cứu   ở phần tiếp theo.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận