Quy mô CTNY

Các nghiên cứu trước đây đã xác định biến quy mô CTNY có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi gian lận BCTC của các công ty. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng Các công ty có quy mô lớn thì ít xảy ra hành vi gian lận BCTC hơn các công ty có quy mô nhỏ. Nhận định này được rút ra từ kết quả nghiên cứu xuyên quốc gia của các tác giả: Wallace (1994), Meek (1995), Ahmed & Courtis (1999), Zarzeski (1996), Robert Bushman và cộng sự (2001), Archambault (2003),  Khanna và cộng sự  (2004). Ngoài ra, kết quả này cũng được khẳng định qua nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung  và  cộng sự (2005) khi thực nghiệm tại TTCK Hồng Kông. Các nghiên cứu trên đưa ra lý  do giải thích cho mối quan hệ giữa quy mô công ty với hành vi gian lận BCTC là do  nhu cầu công khai thông tin hay có thể là các công ty lớn công bố nhiều thông tin hơn  để giảm áp lực chính trị hoặc các công ty lớn thường có nhiều nguồn lực sản xuất nên công khai thông tin nhiều hơn. Ngoài ra, một số nghiên cứu (Robert Bushman và cộng sự, 2001; Archambault, 2003) cũng cho rằng, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có nhiều nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thông tin do họ công bố thường nhạy cảm hơn với sự giám sát nhiều hơn từ công chúng, nhà đầu tư và chính phủ. Do đó thông tin do họ công bố thường được sự chú ý nhiều hơn từ các nhà phân tích, các chuyên gia tài chính và BCTC nên khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC là  ít hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

Theo lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976),  chi phí đại  diện có liên  quan đến sự tách rời giữa quyền quản lý và quyền sở hữu, thông thường xuất hiện ở những CTNY có quy mô lớn. Chi phí ủy nhiệm có xu hướng gia tăng cùng với quy mô công ty (Hossain, 1995).

Các nghiên cứu về  mối quan hệ giữa nhân tố quy mô công ty và hành vi gian  lận BCTC thường đem lại nhiều kết quả trái chiều:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, quy mô CTNY càng lớn thì càng hạn chế được hành vi gian lận BCTC, nguyên nhân là do các công ty lớn thường có hệ thống quản trị nội bộ tốt, kiểm toán nội bộ chặt chẽ hơn, thường được kiểm toán bởi những công ty nổi tiếng như Big 4 và để giữ uy tín và danh tiếng thì bản thân các công ty này sẽ hạn chế hành vi gian lận BCTC (Warfield và cộng sự, 1995; Gore và cộng sự,   2001). Ngoài ra, những công ty lớn thì thường được yêu cầu cung cấp nhiều thông tin hơn do đó họ sẽ hạn chế được hành vi gian lận BCTC trong khi những công ty nhỏ thì khả năng không công bố nhiều thông tin quan trọng có thể trở thành lợi thế của họ và khiến họ thực hiện hành vi gian lận BCTC nhiều hơn (Lee và Choi, 2002).

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, có mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô CTNY và hành vi gian lận BCTC với các lý do đưa ra như quy mô CTNY càng lớn thì áp lực đạt được kết quả như dự đoán là cao, sức mạnh trong thương lượng với kiểm toán, quyền lực quản trị lớn có thể áp đảo hệ thống KSNB (Nelson và cộng sự, 2002). Ngoài ra, các công ty lớn thường bị soi xét kỹ bởi thị trường, ngân hàng, các nhà phân tích và vì thế họ có động lực nhiều hơn trong việc thực hiện hành vi gian lận BCTC (Richardson và cộng sự, 2002).

Khi tiến hành nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC  của các CTNY trên TTCK Việt Nam, thì quy mô CTNY cũng là một nhân tố mà luận  án quan tâm.

Nhân tố quy mô CTNY được đo lường bởi 4 tiêu chí  sau  (Beasley,  1996; Dalton & Kesner (1988); Lou & Wang (2011):

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận