Thực trạng gian lận BCTC của các các CTNY trên TTCK Việt Nam

Thực tế những năm qua trên TTCK tỷ lệ sai lệch sau kiểm toán có xu hướng giảm dần nhưng vẫn còn ở mức rất cao. Xét riêng cho chỉ tiêu lợi nhuận, số liệu thống kê của Vietstock (2017), cho thấy mỗi năm tỷ lệ CTNY có điều chỉnh sau kiểm toán  đều trên mức 70%, còn 6 tháng đầu năm 2017 cũng ở mức 57%. Điều này là một cảnh báo rất lớn về chất lượng BCTC và độ minh bạch về số liệu kế toán do CTNY tự lập.Trong đó, số lượng doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm lợi nhuận sau kiểm toán  luôn cao hơn điều chỉnh tăng. Đặc biệt, số lượng các CTNY  phải điều chỉnh số liệu  trên BCTC sau kiểm toán đều đạt ở mức cao, mặc dù có xu hướng giảm trong các năm qua. Cụ  thể, số lượng CTNY điều chỉnh số liệu trên BCTC năm 2014 chiếm 79%   trong tổng số 639 CTNY, năm 2015 chiếm 75% trong số 653 CTNY, năm 2016

khoảng 72% trong số 671 công ty và 6 tháng đầu năm 2017 có 57% trong số 689 CTNY. Ví dụ như: Tổng CTCP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVX) khi công bố kết quả lợi nhuận sau thuế hợp nhất đã cho thấy sự chênh lệch về số liệu lợi nhuận sau kiểm toán sụt giảm tới gần 70 tỷ đồng, từ 80,08 tỷ đồng xuống còn 10,31 tỷ đồng. CTCP Khoáng sản và VLXD Hưng Long (KHL), lãi sau thuế giảm gần 70% từ 2,1 tỷ đồng  còn 635 triệu đồng do việc điều chỉnh giá vốn và chi phí bán hàng. Hay việc  che  dấu  lỗ do nhà quản lý chịu một áp lực phải đạt được các mục tiêu, kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận hay muốn duy trì thị giá cổ phiếu trong khi công ty đang gặp khó khăn về kinh doanh, về tình hình tài chính. Ví dụ điển hình như CTCP Ntaco (ATA) lỗ 14,4 tỷ đồng, thay vì lãi 187 triệu đồng như ban đầu. Tập đoàn Xăng dầu (Petrolimex, sàn OTC) báo lỗ sau thuế hợp nhất hơn 9 tỷ đồng, thay vì lãi 4,8 tỷ đồng như  công  bố trước đó. CTCP Xây dựng số 5 (VC5) sau kiểm toán thay vì lãi 268 triệu đồng chuyển thành lỗ 17,235 tỷ đồng…

Kết quả sau kiểm toán cho thấy số liệu lợi nhuận trong BCTC các CTNY phải điều chỉnh giảm nhiều hơn so với lợi nhuận điều chỉnh tăng. Cụ thể,  trong năm 2014,  số lượng các CTNY điều chỉnh giảm lợi nhuận tăng gần gấp  đôi  so với các CTNY  điều chỉnh tăng lợi nhuận (có 313 CTNY điều chỉnh giảm lợi nhuận  và 189 CTNY  điều chỉnh tăng lợi nhuận) và trong 6 tháng đầu năm 2017 thì tỷ lệ các CTNY điều chỉnh tăng lợi nhuận cao hơn 28% so với các CTNY điều chỉnh giảm. Điều đó cho   thấy xu hướng lập BCTC điều chỉnh tăng lợi nhuận của các CTNY chiếm tỷ trọng cao (Vietstock, 2017). Trong đó, đặc biệt là các CTNY trong các lĩnh vực như xây dựng,  bất động sản, thực phẩm và kim loại có tỷ lệ điều chỉnh số liệu BCTC cao nhất sau  kiểm toán. Cụ thể, một số tập đoàn lớn thường xuyên điều chỉnh giảm lợi nhuận qua  các năm với chỉ tiêu trước kiểm toán  lãi hàng trăm tỷ đồng nhưng sau kiểm toán báo   lỗ hàng nghìn tỷ đồng. Các khoản mục thường phải điều chỉnh là GVHB, DTBH- CCDV, chi phí quản lý doanh nghiệp như dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng HTK, các khoản đầu tư tài chính,… thông qua các giao dịch nội bộ với công ty con và công ty liên kết. Các công ty đã khai cao doanh thu và thu nhập, ghi giảm chi phí.    Việc ghi giảm chi phí thường thực hiện thông qua vốn hóa chi phí, không trích lập đầy đủ dự phòng, đặc biệt là dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi. Doanh nghiệp cũng có thể chuyển một số chi phí sang năm sau hay thay đổi cách hạch toán giá vốn, thay đổi phương pháp tính khấu hao…Động cơ dẫn đến sai phạm là do nhà quản lý chịu một áp lực phải đạt được các mục tiêu, kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận hay muốn duy trì thị giá cổ phiếu trong khi công ty đang gặp khó khăn về kinh doanh, về tình hình tài chính.

Tóm lại, TTCK Việt Nam đang chỉ trong giai đoạn phát triển khởi đầu, mặc dù có nhiều bước phát triển đột phá, tuy nhiên, cho đến nay thị trường lại rơi vào tình   trạng khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế. Qua nhiều năm phát triển,  các  nhà quản lý, CTNY và NĐT đều nhận thấy những rủi ro mà họ có thể phải gánh chịu nếu thông tin trên TTCK không có độ tin cậy, nhất là các thông tin liên quan  đến  BCTC của CTNY. Do vậy, với mục tiêu đảm bảo rằng không xảy ra hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam thì việc nghiên cứu về các nhân tố  tác  động đến hành vi này là rất cần thiết để giúp cho các nhà quản lý trong việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty, đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách ban hành các chính sách kiểm soát hành vi gian lận BCTC phù hợp nhằm ngăn  chặn hành  vi gian  lận BCTC của CTNY một cách hiệu quả nhất, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận