Các thành tố quyết định tính chính xác của quy tắc Taylor

1.2.1 Lãi suất thực thăng bằng (r*) hay Lãi suất tự nhiên3
Lãi suất tự nhiên (LSTN) tương đương với mức lãi suất thực thăng bằng đối với nền kinh tế, là mức lãi suất tại đó CSTT là trung tính, ko thắt chặt cũng như ko nới lỏng. Tổng quát hơn, LSTN được khái niệm như là mức lãi suất thích hợp với mức sản lượng quy tụ về mức sản lượng tiềm năng, tại đó mức sản lượng thích hợp với mức lạm phát ổn định.
Một NHTW mong muốn giữ giá cả vững bền phải hành động nhằm giữ mức lãi suất thực tế của nhà băng bằng với mức LSTN. Quan niệm này sắp đây trở thành một phần quan yếu trong thuyết lí kinh tế Keynes mới. Lúc NHTW giữ LSCS thấp hơn mức LSTN nhằm gia tăng sử dụng những tài nguyên, đó là sự thể hiện CSTT nới lỏng; trái lại nếu NHTW giữ LSCS cao hơn mức LSTN nhằm hạn chế sử dụng những tài nguyên thể hiện CSTT thắt chặt. LSTN thay đổi theo thời kì tùy thuộc vào mức độ biến động của kinh tế vĩ mô tác động tới nền kinh tế và phải được xác định trước lúc mang thể quyết định CSTT nới lỏng hay thắt chặt. Trong thực tế, việc xác định mức LSTN là khó khăn, phụ thuộc vào việc chọn lựa phương pháp ước tính, ví dụ như ước tính LSTN căn cứ vào những trị giá lãi suất lịch sử hoặc trên hạ tầng LSTN của tất cả các nước khác, phương pháp sử dụng mô phỏng kinh tế lượng sử dụng bộ lọc Kalman và phương pháp tính bình quân lãi suất thực qua một thời kỳ.

1.2.2 Lạm phát mục tiêu
Lạm phát mục tiêu là ý muốn chủ quan của những nhà hoạch định kinh tế trên hạ tầng điều kiện kinh tế và những mục tiêu dự đoán để ước tính một mức lạm phát mong đợi trong một giai đoạn kinh tế nhất định.

1.2.3 Độ lệch sản lượng
Độ lệch sản lượng được đo lường bằng sự khác biệt giữa sản lượng thực và sản lượng tiềm năng qua công thức sau:

Trong đó: OGAP: độ lệch sản lượng; Yt: sản lượng thực tính theo giá năm gốc
năm thứ t; ̅ là sản lượng tiềm năng năm thứ t.
Sản lượng tiềm năng là số lượng hàng hóa và nhà sản xuất tối đa một nền kinh tế mang thể đạt được ở trạng thái hiệu quả nhất, đó là năng lực toàn dụng. Sản lượng tiềm năng được xem như là năng lực sản xuất của một nền kinh tế. Bất kỳ phương pháp ước tính sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào điều kiện giả thiết của mô phỏng và chuỗi số liệu. Những phụ thuộc này là chủ thể của sự ko kiên cố và sai số. Một số phương pháp xác định sản lượng tiềm năng bao gồm phương pháp tách thành phần dữ liệu sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott hoặc mô phỏng ko gian-trạng thái của Watson hoặc một số kỹ thuật phức tạp khác như mô phỏng MV (multivariate), SVAR (structural vector auto-regression), multivariate unobserved parts (UC), và phương pháp sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas.
Trong những điều kiện kinh tế khác ko đổi, nếu OGAP dương, lúc đó giá cả khởi đầu tăng do phản ứng với sức ép cầu tăng trên thị trường, điều này thường xảy ra trong nền kinh tế tăng trưởng nóng làm gia tăng sức ép lạm phát và NHTW mang thể vận dụng CSTT thắt chặt để làm nguội nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất. Trái lại, nếu OGAP âm, giá cả khởi đầu giảm tương ứng với việc sức ép cầu giảm, thường xảy ra trong thời kỳ suy thoái kinh tế, NHTW mang thể vận dụng CSTT mở rộng bằng cách hạ thấp lãi suất, xúc tiến tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế. Lúc OGAP bằng ko (0), nền kinh tế ở trạng thái việc làm đầy đủ. Đây là một trong những mục tiêu CSTT của NHTW. Sản lượng thực tăng to hơn mức sản lượng tiềm năng ko phải lúc nào cũng gây ra lạm phát. Nếu sự tăng trưởng sản lượng thực do kết quả của sự tăng năng suất lao động, hay nếu mang sự trì trệ trước đây trong nền kinh tế, những doanh nghiệp mang thể đáp ứng nhu cầu gia tăng bằng cách sử dụng tốt hơn, hiệu quả hơn những yếu tố sản xuất (những sốc cung hàng hóa), thường ko gây sức ép gia tăng tỉ lệ lạm phát. Tuy nhiên, nếu sản lượng thực tăng do cầu tăng vượt quá mức sản lượng tiềm năng sẽ gây tăng tỉ lệ lạm phát.

Một số khái niệm về kinh tế vĩ mô

+ Độ lệch lãi suất được định tức là sự chênh lệch giữa lãi suất thực và LSTN.

+ Độ lệch thất nghiệp là sự chênh lệch giữa tỉ lệ thất nghiệp thực tế và tỉ lệ thất nghiệp ko gia tăng lạm phát (NAIRU). NAIRU là tỉ lệ thất nghiệp tương ứng với mức lạm phát vững bền. Sự chênh lệch của tỉ lệ thất nghiệp so với NAIRU mang liên quan tới sự chênh lệch của sản lượng thực và mức sản lượng tiềm năng. Tỉ lệ thất nghiệp xoay quanh trị giá NAIRU. Nếu những nhà hoạch định chính sách đạt được tỉ lệ thất nghiệp ở mức bằng với NAIRU, nền kinh tế sẽ sản xuất ra trị giá sản lượng tối đa mà ko mang hạn chế về nguồn lực, hay nói cách khác đi là trong điều kiện độ lệch sản lượng bằng 0 và ko mang sức ép lạm phát (lạm phát ổn định).

+ Trạng thái thăng bằng lý tưởng của nền kinh tế đạt được lúc những độ lệch kinh tế vĩ mô (độ lệch sản lượng, độ lệch lạm phát, độ lệch lãi suất và độ lệch thất nghiệp) bằng ko.

Rate this post

Bình luận