Cấu trúc vốn :Lý thuyết trật tự phân hạng (POT) và Lý thuyết đánh đổi CTV (TOT)

Lý thuyết POT được đề xuất lần trước tiên bởi Donaldson (1961). Nghiên cứu này đã đưa ra những chứng cứ cho thấy, những nhà quản trị ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ và chỉ cần tới nguồn tài trợ bên ngoài (nợ và phát hành cổ phần mới) lúc nhu cầu vốn gia tăng vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Ý kiến này tiếp tục được phát triển bởi Ross (1977), Leland và Pyle (1977), Myers và Majluf (1984). Theo Myers và Majluf (1984), những quyết định tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cở sở thông tin bất tương xứng giữa nhà quản trị và những nhà đầu tư bên ngoài. Theo ông, những nhà quản trị nên ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ bên trong hơn nguồn tài trợ bên ngoài, và nếu phải lựa chọn tài chính bên ngoài thì doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn tài chính theo hướng tối thiểu sự gia tăng tầm giá do thông tin bất tương xứng.
Cụ thể, đối với nguồn tài trợ từ bên trong, nhà quản trị nên diễn ra từ lợi nhuận giữ lại, đây là tài chính ít bị tác động nhất bởi tầm giá do thông tin, tầm giá phát hành và ít rủi ro nhất. Sau đó tới nợ và sự lựa chọn cuối cùng là vốn cổ phần phát hành mới – tài chính phải chịu tầm giá cao nhất do thông tin bất tương xứng và tầm giá phát hành.
Tương tự, Lý thuyết POT đề xuất thứ tự ưu tiên lựa chọn những nguồn tài trợ nhưng ko nhắc tới việc xác định mang hay ko mang một CTV tối ưu cho doanh nghiệp. Mặt khác, lý thuyết này cung ứng chứng cứ trong việc giảng giải mối tương quan nghịch giữa khả năng sinh lời và tỷ số nợ, tức là giảng giải vì sao những doanh nghiệp mang khả năng sinh lời nhiều lại hạn chế vay nợ hơn những doanh nghiệp sinh lời ít. Do đó, Lý thuyết POT ko thay thế những lý thuyết khác mà bổ sung, làm rõ hơn quyết định lựa chọn nguồn tài trợ của nhà quản trị tài chính.
Theo mô phỏng bổ sung của Lý thuyết MM (1963), doanh nghiệp khuyến khích được sử dụng nợ vay để tiết kiệm thuế. Tuy nhiên, lý thuyết này được xây dựng trên hạ tầng những giả thuyết ko thực tế, nhất là ko mang tầm giá kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ.
Kết luận này bị tuyệt đối hóa nên ko hợp lý vì tồn tại nhiều yếu tố làm lợi ích của việc sử dụng nợ vay bị triệt tiêu và một trong số đó là nguy cơ vỡ nợ. Giả thuyết này bị bác bỏ bỏ trong Lý thuyết TOT. Lý thuyết TOT do Kraus và Litzenberger (1973) khởi xướng và được biết tới Lý thuyết TOT tĩnh. Sau đó, tiếp tục phát triển ở nghiên cứu của Myers (1984) và những dự án khác với Lý thuyết TOT động.
Lý thuyết TOT tĩnh
Kraus và Litzenberger (1973) đã đưa ra nhận xét rằng trong quá trình tồn tại của mình thì doanh nghiệp tiện dụng và nhanh chóng đạt tới CTV tối ưu phản ánh một sự đánh đổi giữa lợi ích từ thuế của nợ vay với tầm giá kiệt quệ tài chính, và doanh nghiệp chỉ mang một CTV tối ưu duy nhất. Thật vậy, lúc mức sử dụng nợ của doanh nghiệp tăng lên và đạt tới điểm V*, tại đó tầm giá kiệt quệ tài chính hoàn toàn triệt tiêu lợi ích từ thuế của nợ vay và trị giá doanh nghiệp to nhất. Điểm này được gọi là CTV tối ưu. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tiếp tục tăng mức sử dụng nợ vượt qua điểm CTV tối ưu, tầm giá kiệt quệ tài chính sẽ dần vượt quá lợi ích của thuế từ lãi vay. Do đó, từ điểm này trở đi việc gia tăng nợ vay sẽ làm khuyến mại trị doanh nghiệp. Lý thuyết này được ủng hộ bởi Jensen và Meckling (1976), Jensen (1986). Tương tự, theo Lý thuyết TOT tĩnh, CTV tối ưu được xây dựng trên hạ tầng thăng bằng giữa tầm giá và lợi ích, hay nói một cách khác, CTV tối ưu tại điểm tầm giá cận biên bằng với lợi ích cận biên. Vì vậy, những nhà quản trị cần xác định tầm giá và lợi ích để lựa chọn nguồn tài trợ và cơ cấu vốn hợp lý để đạt CTV tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp rất khó xác định CTV tối ưu (Bringham và Houston, 2009) và vấn đề này xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, trên thực tế, CTV chịu tác động bởi nhiều yếu tố vi mô cũng như vĩ mô thay đổi liên tục theo thời kì như biến động thị trường nguyên vật liệu đầu vào, thị trường đầu ra và TTTC tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc doanh nghiệp tiện dụng và nhanh chóng đạt tới CTV tối ưu tại một thời khắc nhất định là một thách thức. Theo Sheikh và Wang (2011), mặc dù mang nhiều nghiên cứu về CTV tối ưu, tuy nhiên vẫn ko mang phương pháp cụ thể nào được phát triển nhằm tương trợ những nhà quản trị xác định được CTV tối ưu. Do đó, những doanh nghiệp ko thể xác định được một mức CTV tối ưu mà ước tính một con số hoặc khoảng CTV của mình và sử dụng CTV này như một CTV mục tiêu và điều chỉnh CTV thực tế theo mục tiêu trong dài hạn (Myers, 1984).
Thứ hai, CTV tối ưu của Lý thuyết TOT dạng tĩnh được xây dựng trên hạ tầng thăng bằng giữa tầm giá và lợi ích, hay nói một cách khác, CTV tối ưu tại điểm tầm giá cận biên bằng lợi ích cận biên. Như đã phân tích trên, trong thực tế ko phải lúc nào doanh nghiệp cũng mang khả năng xác định hết tất cả những khoản tầm giá, đặc trưng tầm giá kiệt quệ tài chính. Doanh nghiệp chỉ mang thể xác định những loại tầm giá kiệt quệ tài thẳng thắn tiếp liên quan tới quá trình vỡ nợ. Còn những loại tầm giá kiệt quệ tài chính gián tiếp rất khó quan sát và xác định cụ thể.
Chính vì những lý do này, trên hạ tầng phát triển Lý thuyết TOT tĩnh, năm 1984 đánh dấu của sự ra đời Lý thuyết TOT động (Myers,1984) và được sự ủng hộ của Goldstein và Collin (2001), Frank và Goyal (2007).

Rate this post

Bình luận