Định hướng hoàn thiện quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa

Hoàn thiện quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa tới năm 2025, tầm nhìn tới năm 2030 cần được đặt trong bối cảnh đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và huấn luyện theo ý thức Quyết nghị 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương và hàng loạt những thay đổi về cơ chế quản lý NSNN nói chung cũng như những quy định về tài chính, quản lý tài chính đối với ngành giáo dục nói riêng. Cụ thể là:

Thứ nhất, chủ trương đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện.

Ý kiến chỉ đạo đã được nêu trong Quyết nghị 29-NQ/TW là “đổi mới những vấn đề to, cốt lõi, cấp thiết, từ quan niệm, tư tưởng chỉ đạo tới mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước tới hoạt động quản trị của những hạ tầng giáo dục – huấn luyện và việc tham gia của gia đình, cùng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả những bậc học, ngành học” nhằm đạt được mục tiêu “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; mang cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm những điều kiện tăng chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và huấn luyện; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc.

Tiếp đó, Quyết nghị 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương cũng chỉ đạo việc tiếp tục đổi mới để tăng chất lượng và hiệu quả hoạt động của những đơn vị sự nghiệp, trong đó mang sự nghiệp giáo dục.

Những chủ trương nói trên là hạ tầng quan yếu cho những định hướng phát triển giáo dục, theo đó chi NSNN cho giáo dục và quản lý chi NSNN cần hướng tới việc thực hiện những mục tiêu trên.

Thứ hai, những định hướng quản lý tài chính công hiện đại.

Luật Đầu tư công 2014 và Luật NSNN 2015 là phạm vi pháp lý quan yếu nhất trong quản lý tài chính công. Những quan niệm mới được đưa vào luật như quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; lập kế hoạch đầu tư công trung hạn; lập KHTC ngân sách 03 năm, KHTC 05 năm; yêu cầu công khai, sáng tỏ, trách nhiệm giải trình… được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động quản lý tài chính ngân sách tại địa phương.

Thứ ba, những chính sách tài chính và quản lý tài chính giáo dục.

Những chính sách về tài chính giáo dục và quản lý tài chính giáo dục quan yếu bao gồm chủ trương, chính sách về xã hội hóa giáo dục; quy định về tự chủ tài chính theo ý thức Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, trong đó khuyến khích và đẩy mạnh trao quyền tự chủ toàn diện cho những hạ tầng giáo dục, quy định về lộ trình tính giá nhà cung cấp nhằm chuyển dần việc thu học phí sang cơ chế giá nhà cung cấp giáo dục, tiến tới tính đầy đủ tầm giá giáo dục và giảm dần mức tương trợ của Nhà nước cho những hạ tầng GDCL..

Trong bối cảnh đó, quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa tới năm 2025 tầm nhìn tới năm 2030 được thực hiện theo những định hướng như sau:

Một là, quản lý chi NSĐP cho GDCL phải góp phần vào việc thiết lập và duy trì kỷ luật tài khóa chặt chẽ trong quản lý NSĐP.

Duy trì kỷ luật tài khóa là mục tiêu chung trong quản lý tài chính công nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ trong phạm vi khả năng nguồn lực (trần chi tiêu). Để thực hiện định hướng này cần phải tăng chất lượng phân tích, dự đoán tổng nguồn lực NSĐP, nguồn lực NSĐP dành cho GDCL, dự đoán nhu cầu vốn cho phát triển giáo dục, trong đó xác định cơ cấu vốn nhà nước – vốn huy động từ xã hội thông qua xã hội hóa giáo dục. Trên hạ tầng giới hạn tổng nguồn lực cho GDCL, quản lý chi NSĐP cho GDCL phải kiểm soát được tổng nhu cầu chi tiêu cho GDCL từ NSNN tương ứng với khả năng nguồn lực.

Hai là, quản lý chi NSĐP cho GDCL hướng tới việc phân bổ những nguồn lực mang hạn đã được xác định cho những mục tiêu, nhiệm vụ theo thứ tự ưu tiên trong phát triển giáo dục địa phương.

Việc duy trì kỷ luật tài khóa chặt chẽ với mức trần ngân sách đã xác định, vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục là phân bổ nguồn lực khan hiếm theo những chương trình ưu tiên, dựa trên tính hữu dụng của chúng trong việc đáp ứng những mục tiêu chiến lược của quốc gia, của địa phương về phát triển giáo dục. Phân bổ nguồn lực NSĐP cho GDCL phải xúc tiến thực hiện những mục tiêu của ngành giáo dục một cách tốt nhất, góp phần vào sự phát triển vững bền của địa phương. Thực hiện định hướng này sẽ khắc phục tình trạng phân chia nguồn lực dàn trải, thiếu sự tổng hợp, thẩm định. Để thực hiện định hướng này, ngành giáo dục cần mang sự sắp xếp, lựa chọn những vấn đề quan yếu nhất cần khắc phục của ngành ngay từ khâu lập kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương và kế hoạch phát triển ngành để ưu tiên xếp đặt nguồn lực.

Ba là, quản lý chi NSĐP cho GDCL phải cải thiện cơ bản hiệu quả sử dụng ngân sách tại những đơn vị SNCL ngành giáo dục.

Muốn vậy, từ phía Nhà nước và những cơ quan quản lý cần đổi mới hoàn toàn phương thức phân bổ, cấp phát kinh phí cho những đơn vị. Tăng cường tự chủ cho những đơn vị sử dụng ngân sách ngành giáo dục, gắn chi ngân sách với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, những đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập cũng cần  tăng cường năng lực quản trị tài chính nội bộ, cam kết và chịu trách nhiệm giải trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ tương ứng với nguồn lực được phân bổ.

Bốn là, tăng chất lượng tất cả những khâu trong chu trình ngân sách, nhất là chất lượng xây dựng dự toán chi NSĐP cho GDCL, xiết chặt kỷ luật tuân thủ dự toán và trách nhiệm giải trình, gắn trách nhiệm của tư nhân, tổ chức trong quá trình phân bổ và sử dụng NSĐP cho phát triển GDCL ở địa phương.

Rate this post

Bình luận