Hoạt động của thị trường cổ phiếu

Năm 2007, hoạt động phát hành cổ phiếu tăng mạnh từ với sắp 200 đợt phát hành của 192 doanh nghiệp và 4 nhà băng thương nghiệp với tổng lượng vốn huy động đạt sắp 55.846 tỷ đồng. Trong năm 2008, thị trường suy giảm, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán ra sức chúng. Thị trường phục hồi vào năm 2009 cho hoạt động phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc thù là phát hành cổ phiếu. Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đạt 21.724 tỷ đồng tăng hơn 50% so với năm 2008. Thị trường tiếp tục tăng mạnh trong năm 2010, đạt 65.510 tỷ đồng, chiếm 37,71% GDP với 647 doanh nghiệp niêm yết.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011-2012, nền kinh tế Việt Nam rơi vào suy thoái, trong đó, những doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ làm ăn thua lỗ, trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, ngân sách nhà nước suy giảm, chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát. Kết quả, số lượng cổ phiếu phát hành ra sức chúng năm 2011 chỉ đạt 30.477 tỷ đồng, giảm 36.5% so với năm 2010, và chỉ đạt 20.417 tỷ đồng trong năm 2013, tiếp tục giảm 19.7% so với năm 2012. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thực hiện những giải pháp kinh tế vĩ mô nhằm giải cứu nền kinh tế, như: tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước, sáp nhập hoặc chia tách trên hạ tầng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; tái cấu trúc hệ thống nhà băng…

Từ năm 2013-2015 thị trường tăng trở lại, lạm phát được kiểm soát ổn định, phục hồi tăng trưởng kinh tế, lượng cổ phiếu phát hành ra sức chúng đã tăng mạnh trở lại, năm 2013 đạt 64.578 tỷ đồng, mức vốn hóa thị trường đạt 948.750 tỷ, tăng 10,7% so với năm 2012, chiếm 26,47% GDP.

Điều này cho thấy, những doanh nghiệp tham gia niêm yết phát hành với quy mô hơn, những chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã phát huy hiệu quả trên thực tế. Nói cách khác, những doanh nghiệp nhà nước đã làm quen được với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần xúc tiến nhanh việc sắp xếp khu vực doanh nghiệp nhà nước theo tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam và huy động vốn cho ngân sách nhà nước.

Hệ thống định chế trung gian của thị trường cổ phiếu Việt Nam tăng mạnh về số lượng và chất lượng. Tới nay với 94 Tổ chức chứng khoán và 43 Tổ chức quản lý quỹ hoạt động trên thị trường. Đồng thời, hệ thống những nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển mạnh.

Việc gắn công việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với công việc tạo hàng cho thị trường cổ phiếu là nhân tố chủ đạo quyết định thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần xúc tiến tăng trưởng quy mô của thị trường.

Tuy nhiên, hoạt động của thị trường cổ phiếu Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế, cụ thể như sau:

– Số lượng và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Hạn chế to nhất của thị trường là chưa với một lượng hàng hóa đủ to về quy mô cũng như cơ cấu. Với hơn 700 doanh nghiệp được niêm yết vào thời khắc hiện tại, quy mô của thị trường cổ phiếu Việt Nam còn nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp niêm yết hiện là những doanh nghiệp quy mô nhỏ, chưa đủ gây ra sức hút đối với những nhà đầu tư.

– Cổ tức chưa phải là yếu tố được những nhà đầu tư chú trọng và quan tâm lúc đầu tư chứng khoán mà chủ yếu là thặng dự vốn và đầu tư chờ tăng giá chứng khoán.

– Sự tham gia tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường còn hạn chế, tỷ lệ nhà đầu tư tư nhân còn chiếm to trong cơ cấu nhà đầu tư. Về phía cầu, nhiều nhà đầu tư cổ phiếu trên thị trường Việt Nam là tư nhân và mang tính đầu tư hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn của thị trường. Điều này làm cho chính những doanh nghiệp ngần ngại lúc quyết định huy động vốn qua thị trường cổ phiếu. Những nhà đầu tư với tổ chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào tậu cổ phiếu của những doanh nghiệp niêm yết, một phần là do tính kém quyến rũ của những cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những trở ngại, phức tạp liên quan tới phạm vi pháp lý. Những trắc trở đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu những chuẩn mực về công khai sáng tỏ thông tin, những quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, những hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài…

– Hoạt động tậu bán cổ phiếu trên thị trường phi chính thức to hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và chưa được kiểm soát đúng mức. Việc bán cổ phiếu cho công chúng ở bên ngoài thị trường giao dịch chứng khoán (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa với hệ thống quy định pháp luật kiểm soát hoạt động này. Trong số 4.546 doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa tới hết năm 2017, chỉ với 717 doanh nghiệp niêm yết (chiếm 15,7%). Tương tự, với thể cho rằng một số lượng cổ phiếu của những doanh nghiệp này đang được tậu bán trên thị trường ko chính thức và số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông từ công chúng trên thị trường ko chính thức này gấp khoảng 5,2 lần số doanh nghiệp niêm yết chính thức [Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước- 2017]. Ởt những nền kinh tế phát triển, thị trường OTC thường với quy mô to hơn gấp nhiều lần thị trường tập trung, music thị trường này được kiểm soát bởi những luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

– Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của những doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và ko công khai thông tin. Nguyên nhân của tình trạng này ko chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung pháp lý và những chuẩn mực công khai thông tin, kiểm toán, kế toán của Việt Nam. Những vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với nhà đầu tư và ko khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ đông.

Rate this post

Bình luận