Quy tắc Taylor

Khái niệm
Quy tắc Taylor là mô phỏng CSTT được giới thiệu bởi Giáo sư Taylor năm 1993 mô tả LSCS ngắn hạn (FFR) của Fed được đo lường bằng hai thành tố chủ yếu là độ lệch lạm phát giữa mức lạm phát thực tế so với tỉ lệ lạm phát mục tiêu và độ lệch sản lượng giữa mức sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng. Một cách khái quát, quy tắc Taylor là hàm phản ứng của NHTW trước cục diện kinh tế thay đổi (tỉ lệ lạm phát và độ lệch sản lượng).

Quy tắc Taylor tính lãi suất chính sách
Công thức nguyên thủy của Giáo sư Taylor (1993) như sau:

it = πt + 0,5(yt)+ 0,5(πt – 2) + 2 (1.1)
và dạng tổng quát:
it = πt + r* + α(πt – π*) + β(yt) (1.2)

Trong đó: it : LSCS của Fed; r*: Lãi suất thực thăng bằng (equilibrium actual rate of interest); πt: Tỉ lệ lạm phát bình quân qua 4 quý liên tục (Judd và Rudebusch 1998); π*: Tỉ lệ lạm phát mục tiêu dài hạn; yt: Độ lệch sản lượng (output hole), yt = 100 x Ln(GDP thực/GDP tiềm năng) (Kozichi 1999); α: hệ số độ lệch lạm phát; β: hệ số độ lệch sản lượng

Biến đổi công thức (1.2) ta sở hữu dạng như sau:
it = π* + r* + 1,5(πt – π*) + 0,5 (yt) (1.3)
Từ công thức (1.3) cho thấy “nguyên tắc Taylor” gắn với quy tắc Taylor yêu cầu LSCS thực phải tăng lúc tỉ lệ lạm phát thực vượt qua mức lạm phát mục tiêu.
Dạng tổng quát của (1.3) sẽ là:
it = π* + r* + βπ(πt – π*) + βy(yt) (1.4) Trong đó, βπ=1+α, βy = β.
Billi (2011) trình bày một dạng biến thể của quy tắc Taylor như sau:

it = π* + r* + βπ(πt – π*) + βy(gt – g*) (1.5)
Trong đó: gt là mức tăng trưởng GDP thực và g* là xu hướng tăng trưởng của GDP thực được đo lường bằng mức bình quân tỉ lệ tăng trưởng GDP trong giai đoạn dài.
+ Nếu πt > π* hoặc GDP thực > GDP tiềm năng (hay yt > 0) thì it sẽ tăng.
+ Nếu πt < π* hoặc GDP thực < GDP tiềm năng (hay yt < 0) thì it sẽ giảm. + Nếu πt > π* và GDP thực < GDP tiềm năng (hay yt < 0): Xảy ra lúc tỉ lệ lạm phát thực vượt mức lạm phát mục tiêu trong lúc mức sản lượng thực dưới sản lượng tiềm năng. Đây là tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) của nền kinh tế. Trong trường hợp này, quy tắc Taylor đóng vai trò trung hòa giữa hai thành tố xảy ra theo hướng nghịch nhau là lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đưa ra một mức LSCS thích hợp mang tính chất hướng dẫn. Xét hai mô phỏng sau: a1. it = π* + r* + 1,5(πt – π*) + 0,5 (yt) a2. it = π* + r* + 0,5(πt – π*) + 0,5 (yt) Sự khác biệt giữa hai mô phỏng (a1) và (a2) được xác định như sau: – it của (a1) lệch với it của (a2) một khoảng bằng (πt – π*). Điều này cho thấy lúc tỉ lệ lạm phát thực càng to hơn so với lạm phát mục tiêu, sự xa rời giữa it theo quy tắc Taylor (a1) càng to so với it theo quy tắc Taylor (a2). Lúc lãi suất trở nên quá cao sẽ tác động rất mạnh tới tiêu tiêu dùng và đầu tư, tín dụng bị hạn chế, chi tiêu tiêu dùng và chi đầu tư giảm mạnh, những doanh nghiệp lo ngại kinh doanh ko sở hữu lãi nên ko phát triển kinh doanh sản xuất, hàng hóa khan hiếm, cung hàng hóa giảm sẽ tiếp tục gây sức ép lên lạm phát. Điều đó giảng giải lý do vì sao một số NHTW thận trọng lúc ứng dụng nguyên lý “lãi suất cao chống lạm phát cao”. – Lúc πt = π*: ko sở hữu sự khác biệt của it giữa (a1) và (a2). – Lúc πt < π*: trị giá it tính theo (a1) sẽ nhỏ hơn so với it tính theo (a2). Ví dụ về tính toán LSCS theo quy tắc Taylor của NHTW Iceland (với những dữ liệu từ tháng 11 năm 2000 tới tháng 3 năm 2001: π*=2,5%, r*=4%, πt = 9% và ước tính yt = 3%; NHTW Iceland đã ứng dụng mức LSCS là 11,4%, sát với mức lãi suất tính từ mô phỏng a2: 11,25% hơn mô phỏng a1: 17,75%) và NHTW Romania (dữ liệu từ năm 2002-2010: độ lệch trung bình giữa LSCS của NHTW Romania và lãi suất tính theo quy tắc Taylor từ mô phỏng a1: -3,46, từ a2: -1,53) cho thấy LSCS của những NHTW này sát với mức lãi suất tính từ mô phỏng (a2) với cặp hệ số (βπ, βy) là (0,5; 0,5).

Rate this post

Bình luận