Khả năng cung cấp nguồn cung lao động của Việt Nam

Về mặt số lượng, nằm trong thời khắc của cơ cấu dân số vàng, LLLĐ của Việt Nam là 57.495.280 người, chỉ đứng thứ 2, sau In-đô-nê-xia trong ASEAN. Hàng năm, sở hữu khoảng 2,1-2,4% người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, tương đương với khoảng 1,1-1,3 triệu người (Phụ lục 11). Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên (15- 24 tuổi) khoảng 550.000 người; cử nhân tốt nghiệp đại học thất nghiệp chiếm tới khoảng 220.000-240.000 (khoảng 4%) [127]. Tương tự, Việt Nam sở hữu tiềm lực về số lượng lao động sở hữu thể di chuyển đi làm việc ở nước ngoài do việc làm trong nước ko đủ cho số lao động muốn làm việc trên thị trường.

Về mặt chất lượng, như phân tích tại 3.3.2, dòng di chuyển lao động của Việt Nam sang những nước nội khối ASEAN trong thời kì qua chủ yếu là lao động ko sở hữu kỹ năng, trong những ngành nghề ko yêu cầu trình độ kỹ thuật cao, nhiều nhất là thợ thủ công, tiếp theo là những ngành nhà sản xuất, lao động giản đơn và những ngành công nghiệp chế biến.

Quy mô lao động kỹ năng của Việt Nam trong 8 nghề được di chuyển tự do trong nội khối ASEAN rất nhỏ (bảng 3.8). Tổng số kỹ sư, y tá, kiến trúc, thầy thuốc, nha sĩ, nhà sản xuất kế toán, dò hỏi viên, du lịch chỉ sở hữu 37,8 nghìn (trong đó nam 21,2 nghìn  và nữ 16,6 nghìn), chỉ chiếm 1,3% tổng LLLĐ của Việt Nam.

Quy mô lao động Việt Nam trong 7 ngành nghề thấp hơn đáng kể so với tất cả quốc gia khác trong khu vực, kể cả so với Cam-pu-chia và Lào.

Rate this post

Bình luận