Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Năm 1923 thuật ngữ TNXH của DN xuất hiện bởi Oury Shelon. Ông cho rằng: “TNXH của DN được đặt trong mối quan hệ giữa DN với NLĐ thông qua việc DN đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NLĐ trong và ngoài DN”. Nhưng cho tới năm 1953 trong cuốn sách “Trách nhiệm của doanh nhân” H.R.Bowen mới chính thức tạo nền tảng cho lý thuyết TNXH của DN bằng chính những luận giải sắc nét kêu gọi doanh nhân quan tâm tới mối quan hệ giữa DN và những mục tiêu của xã hội. Theo đó, TNXH là nhắc tới nghĩa vụ của DN để theo đuổi những chính sách, thực hiện những quyết định, hành động được kỳ vọng để đạt được những mục tiêu và trị giá của xã hội. Cùng với thời kì, những khái niệm về TNXH được những học giả nước ngoài và trong nước phát triển theo hướng mở rộng và cụ thể hóa nội hàm của nó:

Sethi (1975) và Carroll (1999) đều mang chung một ý kiến là TNXH của DN ko phải quy tắc bất biến, nó sẽ thay đổi để thích hợp với kỳ vọng của xã hội. TNXH là một khái niệm “động” và mang sự thích ứng trong mỗi giai đoạn. Trong đó Carroll (1999) cho rằng: “TNXH của DN là tất cả những vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những ngành khác mà xã hội trông đợi tại một thời khắc nhất định.”

Từ thế kỷ 21 nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc tới vấn đề môi trường và phát triển vững bền lúc nói tới khái niệm TNXH. Những chuyên gia của nhà băng toàn cầu (2003) nhận định: “TNXH của DN là sự cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế vững bền, thông qua những hoạt động nhằm tăng chất lượng đời sống của NLĐ và những thành viên gia đình họ, cho cùng đồng và toàn xã hội theo hướng mang lợi cho những DN cũng như sự phát triển chung của xã hội‟‟.

Những nhà nghiên cứu về lý thuyết các đối tác liên quan nhận định: TNXH nhằm tạo ra và thăng bằng lợi ích khác nhau của DN và các đối tác liên quan. Theo Sybil và cùng sự, (2009): “TNXH của DN là việc tổ chức những hành động để phục vụ lợi ích của bản thân họ và các đối tác liên quan ở thế hệ hiện tại mà ko tác động tới khả năng đảm bảo lợi ích của những thế hệ tiếp theo”.

Trách nhiệm xã hội là sự tuân thủ pháp luật và vượt trên những yêu cầu của pháp luật hiện hành để đạt được mục tiêu phát triển vững bền. Theo Liên minh châu Âu (2011): “TNXH là quá trình mà những DN tích hợp những vấn đề xã hội, môi trường và đạo đức vào những hoạt động kinh doanh và chiến lược của họ trong sự tương tác chặt chẽ với các đối tác liên quan vượt trên những yêu cầu của pháp luật và thỏa ước lao động tập thể”.

Trên hạ tầng phát biểu nêu trên, khái niệm luận án xác định như sau:

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đối với các đối tác liên quan về việc tuân thủ và vượt trên những yêu cầu của pháp luật từ đó tăng chất lượng đời sống của người lao động, thực hiện những xử sự với những đối tác, cùng đồng, môi trường theo hướng đảm bảo sự phát triển vững bền.

Từ khái niệm trên mang thể thấy:

Thứ nhất, DN mang những cam kết về thực hiện mục tiêu kinh tế và phải coi trọng những cam kết thực hiện những mục tiêu xã hội vì những mục tiêu này mang mối quan  hệ biện chứng, tác động tương hỗ, chi phối, xúc tiến lẫn nhau trong quá trình hoạt động của DN. Những DN thực hiện TNXH, cần phải xác định những cam kết, những chương trình hoạt động thực hiện TNXH gắn với mỗi bên liên quan thích hợp với khả năng, chiến lược kinh doanh của mình.

Thứ hai, TNXH của DN cần được đặt trong mối quan hệ giữa DN với các đối tác liên quan như NLĐ, khách hàng, cổ đông, nhà cung ứng, môi trường. Các đối tác liên quan đã mang sự cống hiến, đầu tư hoặc mang mối quan hệ quyết định tới sự tồn vong  và phồn thịnh của DN trong quá trình hoạt động cho nên những nhà quản lý phải xem xét những tác động của DN tới các đối tác liên quan để tối đa hóa lợi ích cho họ trong tổng trị giá lợi ích của DN từ đó đáp ứng những kỳ vọng của các đối tác liên quan trong sự phát triển vững bền cho DN và xã hội.

Thứ ba, thực hiện tuân thủ pháp luật và vượt trên những yêu cầu của pháp  luật. Trong đó thực hiện tuân thủ pháp luật là sự ràng buộc và yêu cầu pháp lý mà mọi DN phải tuân theo (Ký HĐLĐ, trả lương, ATVSLĐ, bảo hiểm …) cũng như vượt trên tuân thủ pháp luật (trả lương khó khăn, tổ chức hoạt động vui chơi, tiêu khiển cho NLĐ, cổ đông, đối tác để gắn kết các đối tác liên quan…) để đảm bảo phát  triển vững bền cho DN cũng như xã hội.

Rate this post

Bình luận