Sự phát triển của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Thị trường ngoại tệ liên nhà băng chính thức hình thành và đi vào hoạt động từ năm 1994 thay thế cho 02 Trung tâm Giao dịch ngoại tệ. Thời kì đầu, những hình thức tìm, bán trên thị trường ngoại hối (cả liên nhà băng và giữa NHTM với khách hàng) còn sơ khai, chủ yếu là hoạt động tìm, bán giao ngay (Spot). Những nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn (Ahead) và hoán đổi ngoại tệ (Swap) ra đời muộn hơn (1998 và 2001) đã góp phần đưa thị trường phát triển ở một mức độ mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn ngắn hạn bằng VND cho những nhà băng.So với những TTTT khác, nhìn chung, thị trường ngoại tệ liên nhà băng là thị trường sở hữu tổ chức chặt chẽ và hoạt động hiệu quả hơn; đóng vai trò quan yếu đối với việc quản lý tỷ giá của NHNN, góp phần làm cho tỷ giá phản ánh chuẩn xác hơn trị giá thực của VND.
NHNN tham gia thị trường với tư cách là người tìm, người bán cuối cùng, thực hiện can thiệp lúc cần thiết vì mục tiêu CSTT. NHNN cũng đã ban hành hàng loạt những quy định về quản lý ngoại hối. Với những quy định này, hoạt động của thị trường ngoại hối giữa TCTD và khách hàng và thị trường ngoại tệ liên nhà băng liên hệ chặt chẽ với nhau hơn.
Hiện nay, thị trường sở hữu 58 thành viên là những TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ. Doanh số giao dịch tăng từ mức 254 triệu USD năm 2003 lên tới sắp 7 tỷ USD cuối năm 2018. Tuy nhiên, những giao dịch chủ yếu là giao dịch giao ngay (chiếm ¾ tổng khối lượng trao đổi). Giao dịch kỳ hạn chiếm sắp ¼; giao dịch hoán đổi đã được sử dụng tune ko nhiều và chủ yếu để khắc phục nhu cầu bổ sung vốn khả dụng bằng VND cho một số NHTM. Giao dịch chính thức trên thị trường liên nhà băng chỉ chiếm khoảng 15% còn lại giao dịch thực hiện tại những NHTM chiếm trên 85%. Điều này cho thấy mức độ phát triển chưa cao của thị trường ngoại tệ liên nhà băng của Việt Nam bởi trên thực tế, ở tất cả quốc gia sở hữu TTTT phát triển ở mức độ cao, tỷ trọng những giao dịch kỳ hạn và hoán đổi ngoại tệ thường rất to (Mỹ, Singapore…).
Về cơ chế tỷ giá, giai đoạn 2005-2007, lạm phát thấp tạo điều kiện cho tỷ giá VNĐ/USD duy trì ổn định.Giai đoạn 2008-2011, lạm phát cao nên việc ổn định (neo) tỷ giá USD/VNĐ vướng mắc. Thị trường diễn biến phức tạp và luôn chịu sức ép tăng tỷ giá USD/VND. Từ năm 2012-2017, tỷ giá đã duy trì ổn định theo tín hiệu thị trường, những đợt điều chỉnh đều nằm trong phạm vi cam kết quản lý tỷ giá hàng năm của NHNN22. Trong đó, đáng chú ý nhất là việc ứng dụng cơ chế tỷ giá trung tâm của NHNN trong năm 2016, cụ thể là việc niêm yết tỷ giá trung tâm23 hàng ngày để làm cơ sở vật chất tham khảo cho tỷ giá tìm bán của những NHTM. Thay vì tỷ giá được điều chỉnh dựa trên sự biến động và sức ép cung cầu của đồng USD trên thị trường; NHNN đã dựa vào 8 đồng tiền tài những nước sở hữu quan hệ thương nghiệp, vay, trả nợ và đầu tư to vào thị trường Việt Nam để làm cơ sở vật chất đưa ra mức tỷ giá. Biên độ giao dịch vẫn tiếp tục duy trì ở mức 3%. Việc tỷ giá trung tâm được điều chỉnh linh hoạt mỗi buổi sáng trước giờ giao dịch đã tạo điều kiện cho sự biến động hàng ngày ko quá to và cũng ko gây sốc cho doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sở hữu hoạt động kinh doanh sử dụng nhiều ngoại tệ trong giao dịch trả tiền, vay mượn. Ngoài ra, sự điều chỉnh linh hoạt ở đây là sở hữu tăng sở hữu giảm, đi theo xu hướng thị trường, cũng như xu hướng tăng giảm của những ngoại tệ mạnh trên toàn cầu, thay vì chỉ theo chiều tăng lên như trước đây. Ngoài ra, một trong những yếu tố tạo điều kiện cho quản lý tỷ giá thành công là việc kiên định trong chính sách giảm USD hóa thông qua việc giữ trần lãi suất huy động ngoại tệ 0%/năm của NHNN.

 Tỷ giá bình quân liên nhà băng và dự trữ ngoại hối, 2005-2016

Diễn biến tỷ giá, 2011-T4/2018

Một số mục tiêu cơ bản về thị trường ngoại hối, 2005-2016

Rate this post

Bình luận