Những nghiên cứu trong nước liên quan đến kinh tế dịch vụ trong phát triển vùng biển, đảo ( tham khảo)

Nguyễn Sinh Cúc (2011), “Tổng quan kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2010” trong Tạp chí Lý luận chính trị số 01 đã phân tích một cách khái quát về tình hình kinh tế toàn cầu đầu thế kỷ 21, những nét vượt bậc của kinh tế xã hội nước ta sau 20 năm đổi mới; đồng thời chỉ ra những tác động của kinh tế toàn cầu tác động tới sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong những ngành công nghiệp, nông nghiệp, nhà sản xuất, xuất nhập khẩu, đặc trưng lúc nước ta hội nhập sâu và nền kinh tế toàn cầu.

Bộ Ngoại giao (2005), “Ngành nhà sản xuất Việt Nam và định hướng phát triển trong thời kì tới” đã nói tới những ngành nhà sản xuất nước ta hiện nay, phân tích những lợi thế và những hạn chế, yếu kém trong khó khăn nhà sản xuất như nhà sản xuất cảng biển, nhà sản xuất nhà băng, nhà sản xuất du lịch và những ngành nhà sản xuất mới như bảo hiểm, tài chính… từ đó đề xuất những định hướng phát triển những ngành nhà sản xuất trong những năm tiếp theo.

Trần Hậu (2010), “Nhà cung cấp xã hội; một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10. Trong bài viết này tác giả đã nêu lên một số quan niệm về nhà sản xuất, cách phân loại nhà sản xuất theo mục đích, theo chức năng, theo tính chất… Tuy nhiên trong bài viết này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về những hoạt động nhà sản xuất công mà ko nói tới những giải pháp để phát triển những nhà sản xuất như cảng biển, nhà sản xuất du lịch.

Trương Quang đãng Hoàn (2011), “Nhận định quá trình thực hiện tự do hóa thương nghiệp đối với một số ngành nhà sản xuất ưu tiên hội nhập ASEAN”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 10 đã khái quát những nội dung cùng với phân tích, thẩm định quá trình thực thi tự do hóa nhà sản xuất và những rào cản mà ASEAN gặp phải trong quá trình hội nhập như: Nhà cung cấp vận tải hàng ko; nhà sản xuất du lịch; nhà sản xuất thông tin – thương nghiệp điện tử; nhà sản xuất hậu cần logistics; nhà sản xuất y tế và chăm sóc sức khỏe; đồng thời tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả những ngành nhà sản xuất ưu tiên lúc hội nhập khu vực.

Phạm Thị Khanh (2008), “Phát triển nhanh và vững bền ngành nhà sản xuất ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính trị số 7. Tác giả nêu lên một số thành tựu đạt được về kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới trong đó sở hữu ngành nhà sản xuất, đặc trưng một ngành nhà sản xuất sở hữu tốc độ tăng cao như: Nhà cung cấp khoa học – khoa học, nhà sản xuất tài chính – tín dụng, nhà sản xuất vận tải – kho bãi… Track tác giả cũng đã phân tích những hạn chế, yếu kém của ngành kinh tế nhà sản xuất, so sánh tỷ trọng đóng góp của kinh tế nhà sản xuất vào GDP của Việt Nam với những nước trong khu vực như: Philippin, Thái Lan, Malaysia… từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhanh và vững bền ngành nhà sản xuất ở nước ta.

Bùi Tiến Quý (2000), “Phát triển và quản lý nhà nước về kinh tế nhà sản xuất”, Nhà xuất bản Khoa học & Kỹ thuật, 2000. Trong tài liệu này tác giả đã trình bày những những lý luận cơ bản về nhà sản xuất như: khái niệm, đặc điểm về nhà sản xuất và vai trò của kinh tế nhà sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, trong đời sống xã hội; tác giả cũng nghiên cứu những chế định của pháp luật nhằm điều chỉnh những hoạt động kinh tế nhà sản xuất, khái quát về sự phát triển của kinh tế nhà sản xuất ở Việt Nam trong một số ngành như: Nhà cung cấp vận tải hàng ko; Nhà cung cấp vận tải biển; Nhà cung cấp viễn thông; Nhà cung cấp tài chính; Nhà cung cấp du lịch… và xu hướng phát triển kinh tế nhà sản xuất trên toàn cầu. Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra những giải pháp nhằm phát triển những ngành kinh tế nhà sản xuất, đặc trưng là những giải pháp phát triển nhà sản xuất ở địa phương.

Đường Vinh Sường (2012), “Thị trường nhà sản xuất trong sự phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị số 7. Tác giả phân tích, thẩm định tổng quát thị trường nhà sản xuất ở nước ta trong nhiều ngành, nêu lên những hạn chế của ngành này, so sánh ngành nhà sản xuất với những ngành kinh tế khác trong nền kinh tế, đồng thời đề xuất một số ý kiến nhằm tăng chất lượng của hoạt động nhà sản xuất ở nước ta.

Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Ngọc Mạnh (2012), “Phát triển khu vực nhà sản xuất của Hoa Kỳ trong thập niên đầu thế kỷ XXI” đã trình bày một số lý luận cơ bản về phát triển ngành nhà sản xuất trong nền kinh tế, xu hướng phát triển ngành nhà sản xuất trên toàn cầu, vai trò của kinh tế nhà sản xuất trong nền kinh tế của những nước, phân tích thực trạng phát triển khu vực nhà sản xuất của Hoa Kỳ từ năm 2000 tới nay, rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển nhà sản xuất của Hoa Kỳ, từ đó đề xuất một số gợi ý về chính sách nhằm xúc tiến sự phát triển ngành nhà sản xuất của Việt Nam. Tuy nhiên trong Luận án này tác giả mới chỉ đề xuất những giải pháp về chính sách phát triển nhà sản xuất của Việt Nam và một số giải pháp phát triển những ngành nhà sản xuất cụ thể như: Nhà cung cấp giáo dục đại học và sau đại học, nhà sản xuất nhà băng, nhà sản xuất khoa học và khoa học, mà chưa nói tới nhà sản xuất cảng biển và nhà sản xuất du lịch biển, đảo.

Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Chiến Thắng (2010), “Phát triển khu vực nhà sản xuất của Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO” đã trình bày những hạ tầng lý luận và thực tiễn về khu vực kinh tế nhà sản xuất, vai trò của kinh tế nhà sản xuất trong nền kinh tế, xu hướng phát triển của nhà sản xuất trên toàn cầu, phân tích thực trạng phát triển khu vực nhà sản xuất của Việt Nam trong điều kiện trước và sau lúc gia nhập WTO; Đồng thời tác giả đã nêu lên những quan niệm và giải pháp phát triển khu vực nhà sản xuất của Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO. Tuy nhiên tác giả chỉ đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp phát triển hai ngành nhà sản xuất của nước ta là nhà sản xuất nhà băng và nhà sản xuất viễn thông trong bối cảnh toàn cầu hiện nay và lúc Việt Nam hội nhập sâu WTO mà chưa nói tới nhà sản xuất cảng biển, nhà sản xuất du lịch và du lịch biển đảo.

Xuân Hòa – Phương Thanh (2013), “Để trở thành cường quốc biển: Phát triển nhà sản xuất logistics”. Trong bài viết này những tác giả đã phân tích khá sâu sắc và chi tiết về lợi thế biển, đảo của Việt Nam – đặc trưng là lợi thế để phát triển ngành hàng hải trong tương quan so sánh với những nước trong khu vực Đông Nam Á; khẳng định vị trí của biển nước ta “ko thua kém bất kỳ quốc gia nào”, tuy nhiên chúng ta vẫn còn yếu kém nhiều mặt trong tầm nhìn chiến lược, chính sách đầu tư… và, nêu một số giải pháp liên kết để giành lại thị trường nhà sản xuất cảng biển, quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đặc trưng cùng với nhà sản xuất vận tải đa phương thức với chất lượng cao, hướng tới nhà sản xuất trọn gói và mở rộng ra nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển nhà sản xuất logistics, hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật, quản lý đầu tư và khai thác hạ tầng hạ tầng cảng biển thích hợp với tình hình và xu hướng phát triển của Việt Nam, đồng thời luật hóa những cam kết của Việt Nam trong phạm vi WTO.

Nguyễn Trùng Khánh (2011), “Một số chính sách tăng năng lực khó khăn điểm tới du lịch của Malaysia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10. Trong bài viết này tác giả đã nghiên cứu tương đối chi tiết những điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa của Malayxia nêu lên những chính sách về phát triển du lịch của Malayxia như: cải tổ bộ máy quản lý du lịch, triển khai nhiều chiến dịch tổng thể phát triển du lịch cho từng giai đoạn, tăng cường đầu tư cho phát triển hoạt động du lịch (tăng ngân sách cho quảng bá du lịch, xây dựng hạ tầng hạ tầng du lịch, tăng chất lượng sản phẩm du lịch, xây dựng mạng lưới văn phòng du lịch ở nước ngoài…), tương trợ những doanhnghiệp kinh doanh du lịch… nhờ đó mà năm 2010 Malayxia thu hút hơn 24,6 triệu khách quốc tế, thu nhập đạt trên 17,8 tỷ USD và thu nhập từ du lịch đứng thứ hai cho Malayxia sau công nghiệp. Đây là những bài học hết sức quý báu để ngành du lịch Việt Nam nói chung và Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng tham khảo, học tập.

Võ Thị Thắng (1998), “Phát triển du lịch ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu trao đổi, số 11. Là một người đứng đầu ngành du lịch, tác giả đã thẩm định những tiềm năng to to của Việt Nam trong phát triển ngành du lịch, được coi là thế mạnh để phát triển kinh tế của nhiều nước trong khu vực và trên toàn cầu, từ đó đề ra một số định hướng cho phát triển ngành du lịch nước ta trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.

Rate this post

Bình luận