Đẩy mạnh cổ phần hoá và tư nhân hoá, tại sao không ?

Trong những năm sắp đây, mặc dù ko chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính khu vực nhưng nhịp độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam với chiều hướng chậm lại. Nhận định về những cản ngại đối với sự phát triển vững bền nền kinh tế nước ta, báo cáo của Chính phủ nhấn mạnh: “…. nhìn chung hiệu quả của những doanh nghiệp nhà nước còn thấp và tiếp tục sút giảm. Nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài chưa được sắp xếp lại. Chủ trương cổ phần hoá, đổi mới quan hệ sở hữu và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước tiến hành còn chậm (….). Những thành phần kinh tế tư doanh, nhất là kinh tế tư nhân trong thực tế còn bị kỳ thị, phân biệt đối xử nên chưa giải vây được tâm lý e ngại đầu tư kinh doanh, làm giàu…”. Nhận định này hoàn toàn thích hợp với quan niệm của những chuyên gia của WB vì “khu vực công cùng to là với hại cho sự tăng trưởng kinh tế ”. Vì vậy, đã tới lúc phải tiến hành cải cách triệt để chế độ sở hữu theo cách khắc phục của kinh tế thị trường nhằm phóng thích mạnh mẽ những năng lực sản xuất.
Trước hết, khái niệm sở hữu phản ánh quyền làm chủ của những thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Quyền sở hữu bao gồm quyền làm chủ và sử dụng tài sản của mình, quyền thừa hưởng những lợi ích kinh tế do những tài sản này tạo ra, “trách nhiệm” phải gánh chịu mất mát do kinh doanh thua lỗ hoặc do những rủi ro bất khả kháng mang lại. Căn cứ vào ba tiêu chí này, nếu như quan niệm sở hữu toàn dân là việc nhân dân cùng làm
chủ những tài nguyên của quốc gia thì hình thức sở hữu này rất mơ hồ và nhập nhằng và dễ dẫn tới tình trạng lộn lạo giữa những chức năng sở hữu, quản lý hành chính, quản lý kinh doanh, tuỳ tiện, lãng phí trong sử dụng vốn và tài sản của toàn dân. Hậu quả là tài sản của Nhà nước sẽ nhanh chóng bị thất thoát, năng lực tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp Nhà nước sẽ ngày càng bị thu hẹp. Những vướng mắc nói trên với thể được khắc phục triệt để nếu triển khai việc cổ phần hoá và tư nhân hoá một cách với hiệu quả.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một phương cách thiết chế hoá quyền sở hữu của doanh nghiệp. Dưới hình thức đơn vị cổ phần, việc tách bạch, phân định khái niệm và chức năng sở hữu (qua Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị) và chức năng quản lý kinh doanh (Ban Giám đốc) rất rõ ràng. Thông qua cơ chế đề cao trách nhiệm tư nhân, tạo thời cơ cho tư nhân phát huy khả năng trên cơ sở vật chất ràng buộc bằng đạo đức nghề nghiệp và hành lang pháp luật, hình thức đơn vị cổ phần với vai trò rất to trong việc cải tổ thành phần kinh tế quốc doanh hiện nay ở nước ta.
Khác với cổ phần hoá. Tư nhân hoá là quyết định của Nhà nước thay đổi hình thức sở hữu từ quốc doanh sang tư nhân thông qua việc bán toàn bộ hoặc một phần cho tư nhân. Trên góc kinh độ tế vĩ mô, tuy ko tạo ra vốn đầu tư mới vì tư nhân hoá đơn thuần chỉ là sự thay đổi hình thức sở hữu nhưng tư nhân hoá với tác dụng tạo động lực kích thích những doanh nghiệp đổi mới phương thức quản lý, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất.
Kinh nghiệm ở một số nước như Pháp, Thổ Nhi Kỳ, Nhật, Malaysia, Singapore và Anh đã chỉ rõ những tác động tích cực tới nền kinh tế từ những chương trình tư nhân hoá. Tác động của chương trình này cũng lan toả sang Trung và Đông Âu. Thực tế cho thấy, ở Ba Lan và Hungary, nơi chương trình tư nhân hoá ko những đã ko những với tác động tới nhu cầu đặt cơ sở vật chất hạ tầng cho cơ Sở giao dịch và phát hành chứng khoán mà còn tạo ra sự phát triển của thị trường vốn với đầy đủ những chức năng. Đây là một trong những động lực chính của những chương trình tư nhân hoá ở những nước này. Tại Ba Lan, để thực hiện chương trình tư nhân hoá, Nhà nước đã thành lập Vụ Phát triển thị trường vốn trực thuộc Bộ chuyển đổi quyền sở hữu (sau này là Bộ tư nhân hoá). Những tổ chức tương tự cũng được thành lập ở Hungary, Cùng hoà Séc & Slovakia và Nga.
Tại Việt Nam, để tạo điều kiện tăng hiệu quả kinh tế và sức khó khăn của doanh nghiệp nhà nước, tránh giá thành và trách nhiệm quản lý kinh doanh của nhà nước, bằng Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999, Chính phủ đã với chủ trương cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua những hình thức giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê toàn bộ doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng, cũng giống như cổ phần hoá, chủ trương tư nhân hoá thông qua những hình thức bán, khoán kinh doanh, cho thuê vẫn còn với nhiều khó khăn; vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện.
Rõ ràng, trong bối cảnh này, nếu chúng ta ko đổi quan niệm và cách thức tiến hành tư nhân hoá và cổ phần hoá thì việc phát triển thị trường thứ cấp sẽ trở nên vô cùng khó khăn vì nhu cầu tậu đi và bán lại những chứng khoán chỉ nẩy sinh ra và chỉ lúc tồn tại một khối lượng chứng khoán đủ to được phát hành từ thị trường sơ cấp, được đại phòng ban công chúng nắm giữ.  Vì vậy, trong thời kì tới, để đẩy mạnh tư nhân hoá và cổ phần
hoá, những giải pháp cần triển khai thực hiện là:
+Một, xây dựng và ban hành kịp thời những cơ chế, chính sách xác định trị giá tài sản doanh nghiệp, khắc phục công nợ khó đòi, cơ chế thực hiện quyền sở hữu của nhà nước trên số cổ phần nhà nước hiện tại với những đơn vị cổ phần để giải vây kịp thời những vướng mắc phát sinh hiện nay trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sở hữu.
+Hai, những chủ trương chính sách đổi mới doanh nghiệp phải thể hiện quyết tâm chính trị cao để đoạn tuyệt hẳn với quan niệm xem cổ phần hoá là bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, là “chệch hướng”xã hội chủ nghĩa vẫn còn tồn tại phổ biến trong những ngành, các đơn vị quản lý, những doanh nghiệp. Quan niệm này là nguồn gốc phát sinh tư tưởng chần chừ do dự hoặc thực hiện cổ phần hoá, tư nhân hoá ko triệt để. Thực thế cho thấy, do ko nhận thức đúng những lợi ích kinh tế to to của cổ phần hoá doanh nghiệp nên những doanh nghiệp được cổ phần hoá trong thời kì qua chủ yếu vần là những doanh ngiệp làm ăn yếu kém. Hậu quả của hiện tượng này là tiến trình cổ phần hoá mất đi dần động lực và ý nghĩa.
+Ba, xoá bỏ tận gốc tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử với những thành phần kinh tế tư doanh thể hiện trong những chủ trương, chính sách. Dễ hiểu là, trong một môi trường khó khăn chưa thật sự đồng đẳng, việc chuyển sang cổ phần hoá sẽ làm cho một số doanh nghiệp cảm thấy bị thiệt thòi và do đó động lực cổ phần hoá nến với được nhen nhóm thì cũng sẽ mau chóng bị dập tắt và triệt tiêu.
+Bốn, kiên quyết cắt đứt “cuống rốn” tín dụng ưu đãi đang là chỗ dựa nuôi dưỡng tư tưởng ỷ lại, thói quen dựa dẫm, tập quán xin – cho vẫn còn tồn tại phổ biến trong Ban lãnh đạo những doanh nghiệp nhà nước. Nếu ko, phản ứng tự nhiên của những doanh nghiệp sẽ là thà chấp nhận làm những “con gà công nghiệp’” được nuôi dưỡng, chu cấp từ đầu tới chân sẽ thoả mái, thuận tiện hơn lúc phải tự lực cánh sinh để “bươn chải” và vươn lên trong cơ chế thị trường. Lúc con đường tiếp cận tới nguồn ưu đãi bị cắt đứt, lúc nhà băng với thể tự lựa chọn khách hàng và áp đặt mức lãi suất theo mức độ rủi ro được chính nhà băng thẩm định từ dự án, từ doanh nghiệp, thế tất những doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động với hiệu quả hơn để tự tồn tại và phát triển.
+Năm, thành lập Quỹ quản lý tài sản quốc gia trực thuộc Quốc Hội để thay mặt toàn dân bảo toàn và phát triển những tài sản công như cổ phần của những doanh nghiệp nhà nước, vốn được chia lúc tư nhân hoá những doanh nghiệp nhà nước, những khoản thu nhập từ đầu tư và những nguồn khác do Quốc Hội phê chuẩn. Quỹ sẽ hoạt động như một tổ chức đầu tư giỏi với những thành viên của Hội đồng quản trị do Quốc Hội bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5-7 năm. Hội đồng quản trị với nhiệm vụ lãnh đạo hoạt động của Quỹ, bổ nhiệm và giám sát hoạt động của những thành viên trong Ban Tổng giám đốc. Hình thức đầu tư của Quỹ với thể là cho Chính phủ vay để tài trợ những dự án, những dự án to, tậu bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán, đầu tư trên thị trường tiền tệ….
Lúc thực hiện cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước, tuỳ thuộc vào quy mô và vị trí của doanh nghiệp trong nền kinh tế, Nhà nước với thể uỷ thác (bằng văn bản) số cổ phần nhà nước trong những doanh nghiệp này cho Quỹ quản lý tài sản quốc gia, Bộ chủ quản và một số doanh nghiệp đối tác với quan hệ mật thiết đối với đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp quản lý. Những tổ chức này sẽ cử người tham gia Đại hội cổ đông và biểu quyết bằng số cổ phần của mình. Dĩ nhiên, trừ trường hợp Chính phủ quyết định tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước, những cổ phần này ko được phép tậu bán, chuyển nhượng. Cơ cấu vốn cổ phần nhà nước uỷ thác cho những tổ chức này xin được đề xuất như sau: a) Quỹ quản lý tài sản quốc gia: 20-30%; b) Bộ chủ quản:5-10%; c) Những doanh nghiệp đối tác quan yếu: 5%.

Rate this post

Bình luận