Hạn chế của cơ quan chuyên trách Nhà nước trong vai trò quản lý

Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam chiếm khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm khoảng 22% tổng GDP. Những ngành nghề nhà cung cấp sở hữu liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v… bước đầu phát triển, nhưng còn nhỏ bé. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, trị giá tổng sản phẩm hằng năm còn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của China, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và 1/260 kinh tế biển của toàn cầu. Những năm qua, do chưa sở hữu chiến lược tổng thể, cho nên những ngành, những địa phương thiếu căn cứ để quy hoạch. Tính đồng bộ của những chủ trương, chính sách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, đảo; sự quan tâm phát triển những ngành nghề liên quan tới biển, đảo của các đơn vị quản lý, những ngành, còn nhiều hạn chế. Cho tới hiện tại, nước ta chưa sở hữu một cơ quan nhà nước để quản lý thống nhất về biển (tuy đã sở hữu Ban chỉ đạo Biển Đông – Hải đảo, thành lập năm 1993) nên còn bất cập về công việc quản lý nhà nước. Nhiều Bộ, ngành cùng tham gia quản lý biển nên sở hữu tình trạng chồng chéo, trong lúc nhiều khâu lại bị bỏ trống.

Nhìn chung cho tới hiện tại nước ta vẫn chưa sở hữu cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ quản lý, quản lý chung những hoạt động kinh tế trên biển, đảo dẫn tới hiệu quả kinh tế biển phát triển chậm, thiếu vững bền và cơ cấu chưa hợp lý.

Những hạn chế về cơ chế, chính sách phát triển cơ sở vật chất hạ tầng vật chất trong vùng biển, đảo nước ta

Mặc dù đã sở hữu những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển, đảo, nhưng thực chất vẫn chưa đủ mạnh để tạo động lực kích thích những nhà đầu tư trong nước và nước ngoài mạnh dạn đầu tư vào những ngành nghề kinh tế biển như: Hệ thống cảng, nhà cung cấp logistics, nhà cung cấp khai thác khoáng sản, du lịch biển, nhà cung cấp hậu cần thủy sản… việc quy hoạch vẫn còn dàn trải, những doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém cả về năng lực kỹ thuật, con người, hệ thống pháp luật trong đó sở hữu Luật Hàng hải còn nhiều bất cập so với những chủ trương, chính sách phát triển, ngoài ra việc thực thi một số luật còn chưa thực sự nghiêm minh như Luật Thương chính, Luật Thuế, Luật Đầu tư nước ngoài…

Do vậy tới nay Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về cơ sở vật chất hạ tầng vận tải trong số những nền kinh tế trọng tâm ở khu vực Đông Nam Á, trang thiết bị còn lạc hậu, chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Những mục tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với những nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của Singapore, 1/7 của Malaysia và 1/5 của Thái Lan). Năng suất xếp tháo chỉ đạt mức trung bình thấp so với những nước trong khu vực (khoảng 2.500-3.000 tấn/mét/năm), những doanh nghiệp vận tải biển của Việt Nam vẫn hoạt động độc lập thiếu hẳn sự liên kết giữa những hãng tàu, chủ hàng; trình độ ứng dụng kỹ thuật thông tin còn hạn chế, kết nối thông tin với mạng logistics toàn cầu chưa được thường xuyên, những cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ du lịch như cảng tàu du lịch, khu nghỉ dưỡng, chữa bệnh, những khu sinh thái ven biển, đảo chưa được cải tạo, nâng cấp.

Hệ thống đường liên lạc kết nối với hệ thống cảng biển, những thành phường, khu kinh tế, KCN ven biển trở thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn, nhưng tới nay vẫn chưa được hoàn thiện, một số sân bay ven biển và trên một số đảo tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn rất nhỏ bé chưa thực sự trở thành một hệ thống vận tải giỏi phục vụ cho phát triển kinh tế vùng biển và trên những đảo.

Rate this post

Bình luận