Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam

1. Kim ngạch xuất khẩu:

Dệt might là ngành kinh tế quan yếu, thu hút số lượng to lao động, hơn 300.000 lao động là ngành mang kim ngạch xuất khẩu to thứ hai sau ngành dầu khí.

Kim ngạch xuất khẩu dệt might năm 2003 đạt 3,7 tỉ USD gấp 2 lần so với năm 2001. kim ngạch xuất khẩu dệt might cả nước tháng 8/2007 ước đạt 830 triệu USD, tăng 32,8% so với tháng 8/2006, tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 5,084 tỷ USD, tăng 29,6% so với cùng kỳ. Tháng 8, sản xuất kinh doanh của ngành tiếp tục phát triển với nhiều tín hiệu tích cực do nỗ lực tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc khắc phục vấn đề cơ chế giám sát hàng dệt might Việt Nam. Do quản lý tốt công việc giám sát xuất khẩu hàng dệt might sang Mỹ để tránh kiện bán phá giá nên những nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đã quay trở lại Việt Nam đặt hàng cho quý IV và những tháng đầu năm 2008.

Tập đoàn Dệt might và Hiệp hội Dệt might đang tiếp tục hướng dẫn những doanh nghiệp tham gia quảng bá sản phẩm, tiếp thị sản phẩm của ngành vào thị trường EU với sự tương trợ từ Trung tâm xúc tiến xuất nhập khẩu từ những nước đang phát triển của Hà Lan. Cuối tháng 7/2007, Bộ Công Thương đã ra Quyết định giới hạn việc chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất hàng dệt might, hàng dệt might bán thành phẩm, nguyên phụ liệu dệt might qua Việt Nam sang Hoa Kỳ. Đây là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn việc chuyển tải phi pháp, sử dụng giấy xuất xứ hàng hóa (C/O) từ Việt Nam thay vì C/O từ nước khác cho việc tạm nhập, tái xuất đối với hàng dệt might.

2. Thị trường xuất khẩu:

Thị trường Mỹ: nếu những tháng đầu năm, ngành dệt might VN điêu đứng vì hàng loạt nhà NK Hoa Kỳ “bỏ đi” do lo ngại hàng dệt might VN bị Hoa Kỳ vận dụng cơ chế giám sát, và mang thể bị áp thuế chống bán phá giá… nhưng với sự chủ động giám sát đối với hàng dệt might XK ngay từ trong nước, sức ép đã giảm, và những nhà NK Hoa Kỳ đã quay trở lại. Trong tháng 7/2007, xuất khẩu mặt hàng dệt might Việt Nam sang Mỹ tiếp tục duy trì ở mức cao và tăng nhẹ so với tháng 6, kim ngạch xuất khẩu đạt 444,3 triệu USD, tăng 3% so với tháng 6 và tăng tới 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt might của Việt Nam trong tháng 7. Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt might của Việt Nam sang thị trường Mỹ 7 tháng năm 2007 lên 2,487 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao trong nhiều năm qua và cũng là bước đệm cho họat động xuất khẩu hàng dệt might của Việt Nam sang Mỹ thuận lợi trong những tháng cuối năm nay và đầu năm 2008.

Tiếp tới là thị trường EU, đạt kim ngạch 801.987.229 USD tăng 16,78% so với cùng kỳ năm ngoái. Với tiến độ xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng xuất khẩu hàng dệt might của Việt Nam sang EU sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Xuất khẩu hàng dệt might sang Nhật Bản cũng mang được sự tăng trưởng khá, đạt 389.472.316 USD, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả này đánh dấu sự hồi phục mạnh mẽ tại thị trường Nhật Bản. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Canađa đã mang sự tăng trưởng rất mạnh trong 7 tháng đầu năm, đạt 77.651.653 USD, tăng tới 42,74% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt might Việt Nam sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng ở mức kỷ lục, tăng 491,84% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù kết quả xuất khẩu đạt được vẫn còn thấp, chỉ đạt 21.274.148 USD nhưng cũng đã mở ra rất nhiều thời cơ cho những doanh nghiệp dệt might Việt Nam trong thời kì tới.

3. Khó khăn:

Ngành dệt might hiện nay đang phải đối mặt với một số khó khăn sau:

Một là, do trình độ máy móc thiết bị của những nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu, ko được đổi mới, nên không liên quan được yêu cầu ngày càng cao của những doanh nghiệp về chất lượng và thời kì giao hàng.

Hai là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành dệt might đang nhập lậu vào Việt Nam từ China với số lượng to, giá rẻ. Không những thế, tâm lý những doanh nghiệp ko muốn đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ ko khó khăn nổi với sản phẩm của China cũng là điều dễ hiểu, nhất là cơ chế thị trường hiện nay.

Ba là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụ tùng ko mang hiệu quả.

Bốn là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khó tính về chất lượng, đòi hỏi phải mang tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại, điều này những doanh nghiệp cơ khí trong ngành chưa đủ vốn để đầu tư.

Tình hình phân phối nguyên phụ liệu chưa được cải thiện:

Nguyên phụ liệu cũng đang là vấn đề nan giải của ngành dệt might. Hiện nay, 70% sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam thực hiện theo phương thức gia công, 30% còn lại là bán gia công. Vì phụ thuộc tới 80% nguyên, phụ liệu nước ngoài, hàng dệt might Việt Nam bị đội giá tới 20 – 30%. Đặc thù đối với bông xơ thì tỷ lệ này còn cao hơn. Mỗi năm ngành dệt cần khoảng 60.000 tấn bông xơ, nhưng nguồn bông trong nước chỉ mới sản xuất được từ 13.000 tấn tới 16.000 tấn, một con số nhỏ bé so với nhu cầu.

Mặc dù trong những năm qua, chính phủ rất quan tâm tới phát triển diện tích trồng bông, nhưng do khí hậu và thổ nhưỡng nước ta chưa thích hợp, nên diện tích và sản lượng bông trong những năm qua tuy mang tăng nhưng ko đáng kể. Đặc thù, vụ bông vừa qua diện tích trồng bị thu hẹp, làm sản lượng giảm 20% so với những vụ trước. Nguyên nhân là do người nông dân chuyển sang trồng những cây khác, hạn hán kéo dài đã làm nhiều vùng trồng bông mất trắng hàng nghìn hecta, ko cho thu hoạch.

Về phụ liệu, mặc dù thời kì qua mang một số nhà máy như: Doanh nghiệp cổ phần phụ liệu might Nha Trang, Doanh nghiệp might Việt Tiến, Doanh nghiệp dệt vải công nghiệp và những tổ chức tư nhân đã sản xuất được phụ liệu khoá kéo, tấm lót, cúc, chỉ… nhưng sản lượng cũng rất nhỏ bé, chỉ giải quyết được khoảng 20 – 25% nhu cầu của ngành.

Chiến lược vẫn giới hạn lại ở ý tưởng và dự án: Chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt might còn đang giới hạn ở ý tưởng và dự án. Việc tiếp tục nhập khẩu phụ tùng, cơ kiện, nguyên phụ liệu cho ngành dệt might với khối lượng to vẫn phải triển khai. Đây là những vấn đề cho những doanh nghiệp dệt might cho tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

5/5 - (1 bình chọn)

Bình luận