Lý thuyết về suy thoái kinh tế [1]

Lý thuyết chu kỳ kinh tế mang ba pha là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Khởi đầu của chu kỳ kinh tế là pha phục hồi tăng trưởng (đường dốc đi lên được trình bày Hình 2.3) là sự tác động thuận chiều bởi những cú sốc ngoại sinh như kỹ thuật, tiền lương, giá cả, CSTK, CSTT, … tới sự ổn định của những chỉ số tài chính và kinh tế vĩ mô. Từ đó, càng củng cố niềm tin và kỳ vọng của người dân (bao gồm doanh nghiệp) một cách thái quá vào tương lai, nền kinh tế sẽ tiếp tục phát triển, hưng thịnh hơn nữa – pha hưng thịnh. Tuy nhiên, do niềm tin thái quá đó sẽ dẫn tới những hành vi sai trái và sau đó dẫn tới một cuộc suy thoái kinh tế toàn diện – pha suy thoái (đường dốc đi xuống được trình bày Hình 2.3).

Theo lý thuyết trọng tiền, lịch sử những cuộc suy thoái kinh tế thường mở đầu với một tỷ lệ lãi suất thấp, trong lúc tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao. Theo Lý thuyết đầu tư quá mức, chính sự chênh lệch này là động cơ làm cho khu vực doanh nghiệp gia tăng sản suất. Doanh nghiệp ko ngừng huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, sắm sắm tài sản nhất mực để tiếp tục cải thiện lợi nhuận. Mặt khác, theo Lý thuyết bầy đàn và Lý thuyết tiêu sử dụng yếu (Banerjee, 1992; Chari và Kehoe, 2004), trong giai đoạn tăng trưởng do cơ chế phản hồi khách quan, niềm tin của người tiêu sử dụng vào nền kinh tế thịnh vượng nên nhu hố xí sử dụng theo đó cũng tăng lên. Vì vậy, trị giá của hàng hóa ko ngừng tăng lên, lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung tăng một cách đáng kể. Cũng theo hai lý thuyết này, nhà đầu tư tăng cường những tài chính đầu tư với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao trong tương lai, theo đó giá cả của những loại tài sản cũng tăng lên. Không những thế, theo Diamon và Dybvig (1983), trong khu vực tài chính thông qua cơ chế lan truyền thông tin về sự phát triển của khu vực thực, do đó, kênh tín dụng sẽ mở rộng, trong lúc phí bảo hiểm rủi ro của khoản vay thấp. Từ đó, dẫn tới việc tăng giá cả hàng hóa, giá cả của những loại tài sản cao hơn so với trị giá thực của nó (nhất là tài sản tài chính, tài sản thế chấp), theo đó lạm phát cũng tăng cao. Lúc đó TTTC đã tiềm tàng những bất ổn và mang tín hiệu của sự suy thoái (chủ yếu do thị trường tài sản và TTTD gây ra).

Theo Lý thuyết Marx, lúc nền kinh tế suy thoái thì những tín hiệu trên biến thiên theo chiều trái lại với lúc nền kinh tế phục hồi. Kết quả của sự tăng trưởng ko vững bền là làm cho hệ thống tài chính, kinh tế vĩ mô di chuyển từ trạng thái ổn định sang trạng thái bất ổn (thường được gọi là khoảnh khắc Minsky). Theo Lý thuyết Minsky (1975), lúc tình hình tài chính bất ổn thì những khoản nợ trong nền kinh tế bộc lộ những rủi ro tiềm tàng trước đó, đặc thù là việc định giá tài sản ở mức cao so với thực tế và những khoản vay dưới chuẩn. Do đó, nhà băng và những TCTD sẽ hạn chế cấp tín dụng, cơ cấu lại những khoản vay hoặc gia tăng điều kiện cho vay. Lúc những hoạt động đầu tư chứng khoán, BĐS và những thị trường tài sản khác bị “đóng băng”, lợi nhuận từ những dự án đầu tư ko như kỳ vọng, doanh nghiệp cũng như hộ gia đình tư nhân ko thể trả nợ, sẽ dẫn tới sự mất khả năng chi trả

Rate this post

Bình luận