Nguyên nhân của các hạn chế về quản lý chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2017

Thứ nhất, nguyên nhân khách quan.

Thanh Hóa là tỉnh nghèo, điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn, thu NSNN trên khu vực đạt thấp, nguồn lực cho phát triển giáo dục còn hạn chế, phụ thuộc nhiều vào tương trợ từ Trung ương. Trong lúc đó, do điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn, đặc thù là khu vực miền núi, dẫn tới nhu cầu đầu tư cho GDCL to. Chính tranh chấp giữa khả năng nguồn lực và nhu cầu thực hiện những nhiệm vụ chi NSĐP nói chung, chi NSĐP cho GDCL nói riêng đã gây ra những bất cập trong quản lý chi NSĐP cho GDCL. Để đạt được mục tiêu phát triển giáo dục, đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng giáo dục của người dân ở những khu vực, ngành giáo dục cần tiến hành những hoạt động đầu tư tăng cường hạ tầng vật chất, tăng chất lượng hàng ngũ thầy giáo… cho những vùng còn nhiều khó khăn, chưa được đầu tư. Tuy nhiên, do nguồn lực mang hạn buộc ngành phải lựa chọn đầu tư riêng lẻ, thiếu tính đồng bộ, từ đó, tác động tới hiệu quả quản lý chi NSĐP cho GDCL.

Những văn bản quy phạm pháp luật nói chung, Luật NSNN và những văn bản hướng dẫn thực hiện nói riêng, đang trong quá trình hoàn thiện, một số quy định còn bất cập. Chẳng hạn: chưa mang quy định về lập kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn trong giai đoạn 2011-2017 hoặc mang quy định trong giai đoạn 2018-2020 nhưng còn bất cập (quy định lập kế hoạch tài chính – ngân sách địa phương nhưng chỉ xây dựng kế hoạch chung toàn tỉnh và ngân sách cấp tỉnh, chưa mang quy định về xây dựng kế hoạch tài chính của những quận, thị xã, thành thị trấn); nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về cơ chế tự chủ đối với những đơn vị SNCL đã ban hành nhưng văn bản hướng dẫn còn chậm cũng là một khó khăn trong công việc quản lý tài chính đối với những đơn vị SNCL ngành giáo dục.

Tác động của sự thay đổi chính sách tiền lương và giá cả thị trường làm cho định mức chi NSĐP cho GDCL những năm cuối của thời kỳ ổn định ngân sách trở nên lạc hậu, không liên quan được nhu cầu thực hiện những nhiệm vụ chi của những đơn vị sự nghiệp GDCL. Cơ cấu chi trong định mức phân bổ là đảm bảo tỷ lệ rót vốn lương, những khoản phụ cấp theo lương 90%, những khoản chi nghiệp vụ tối thiểu 10% (theo lương hạ tầng 730.000 đồng/tháng). Tương tự, phần kinh phí dành cho chi cho hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị ko thay đổi trong suốt thời kỳ ổn định. Giai đoạn 2011-2016, Chính phủ đã 04 lần thực hiện điều chỉnh mức lương hạ tầng (từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng, 1.050.000 đồng, 1.150.000 đồng, 1.210.000 đồng/tháng); đồng thời, tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn này cũng luôn biến động. Những sự thay đổi này làm cho định mức chi NSĐP cho GDCL trở nên lạc hậu.

Sự phối hợp giữa những cơ quan trung ương với địa phương trong một số hoạt động chưa thực sự nhịp nhàng

Thứ hai, nguyên nhân chủ quan.

Do quy định về chức năng, nhiệm vụ theo phân cấp quản lý chính quyền địa phương, cơ quan quản lý ngành ko phải là cơ quan chủ trì tham vấn trong quản lý biên chế, xây dựng đề án vị trí việc làm của những đơn vị SNGD công lập. Chính vì vậy, chưa phát huy được vai trò của cơ quan quản lý ngành giáo dục trong giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho những đơn vị. Việc theo dõi những nội dung chi cho GDCL (chi ĐTPT, chi thường xuyên, chi thực hiện những chương trình, dự án) do nhiều cơ quan thực hiện nhưng ko mang cơ quan nào chịu trách nhiệm tổng hợp chung tất cả những những nội dung chi. Vì vậy, rất khó để thẩm định việc thực hiện những mục tiêu giáo dục một cách tổng thể.

Nguồn nhân lực trong bộ máy của cơ quan tài chính, cơ quan GD&ĐT ở địa phương thực hiện nhiệm vụ theo dõi, quản lý tài chính đối với những đơn vị ngành giáo dục còn hạn chế về số lượng và ko đồng đều về năng lực chuyên môn. Chính vì vậy, việc phát huy vai trò rà soát giám sát của cơ quan tài chính và cơ quan quản lý cấp trên rất khó thực hiện, dẫn tới tình trạng rà soát, giám sát ko được thực hiện một cách thường xuyên.

Việc tuyển dụng, sắp đặt lao động ko hợp lý dẫn tới tình trạng tỷ lệ chi trả tiền tư nhân cao, ko đảm bảo yêu cầu chi nghiệp vụ để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Do tình trạng thừa thiếu cục bộ, tình trạng tuyển dụng lao động tràn lan trong điều kiện nguồn thu của những đơn vị còn hạn chế, những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp để chi trả, trả tiền cho những lao động hợp đồng, dẫn tới tình trạng chi nghiệp vụ chuyên môn ko đảm bảo.

Rate this post

Bình luận