Giải thích khái niệm Thị trường sơ cấp trong chứng khoán

1.3.1.1. Thị trường sơ cấp
Cùng với hoạt động tậu đi bán lại của những chứng khoán đã phát hành trên thị trường thứ cấp, hoạt động phát hành và cung ứng những chứng khoán mới để tăng vốn của những doanh nghiệp cũng diễn ra liên tục trên thị trường sơ cấp. Góp phần vào việc tạo ra sự sôi động trên thị trường sơ cấp phải kể tới nhà băng đầu tư (tổ chức bao tiêu chứng khoán), định chế tài chính hoạt động với tư cách là trung gian giữa những doanh nghiệp phát hành và người tậu chứng khoán sau hết. Thông thường, tại những nước mang thị trường vốn phát triển, một đợt phát hành những chứng khoán mới đều được tổ chức dưới sự tương trợ đắc lực của những tổ chức bao tiêu chứng khoán. Vai trò này thể hiện ở việc tổ chức bao tiêu cung ứng một loạt những nhà cung cấp: tư vấn, bao tiêu và phân phối những chứng khoán mới được phát hành tới công chúng.
Trước hết, cần phải xác định rõ nội hàm của khái niệm “ nhà băng đầu tư ” bởi vì đây là một trong những khái niệm dễ gây nên sự hiểu lầm nhất.    Theo thông lệ quốc tế, thuật ngữ “nhà băng đầu tư” mang ý nghĩa khác biệt vì “ nhà băng đầu tư” hoàn toàn ko phải là nhà băng thương nghiệp hiểu theo nghĩa thông thường và do đó, hoạt động của định chế này ko thể được điều chỉnh theo loại hình hoạt động của nhà băng như đã kể tại khoản 2, điều 20 Luật những tổ chức tín dụng. Đó là một định chế tài chính nhiều năm kinh nghiệm (market specialists), chuyên bao tiêu chứng khoán (underwriter) trên thị trường tài chính. Nói cách khác, nhà băng đầu tư chính là những tổ chức bao tiêu (thường là những tổ chức chứng khoán) chuyên thực hiện nhà cung cấp tư vấn phát hành chứng khoán và đóng vai trò tích cực trong việc phân phối chứng khoán tới nhà đầu tư cuối cùng trên thị trường sơ cấp.
Trong một đợt phát hành chứng khoán mới ra sức chúng, với tư cách là nhà tư vấn, những tổ chức bao tiêu chứng khoán phân phối những nhà cung cấp tương trợ cần thiết để giúp những doanh nghiệp mang thể đáp ứng yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (SSC) về đăng ký phát hành và chuẩn bị những hồ sơ cần thiết để phục vụ những quy định về công bố những thông tin về nhà phát hành cho những nhà đầu tư. Một trong những yêu cầu công bố thông tin đó là phải lập bản cáo bạch để giúp nhà đầu tư thẩm định chuẩn xác tình hình tài chính doanh nghiệp và trên cơ sở vật chất đó đưa ra những quyết định đầu tư chứng khoán. Bản cáo bạch là bản phân phối những thông tin được yêu cầu cho những nhà đầu tư tiềm năng, bao gồm kế hoạch kinh doanh, tình trạng tài chính hiện thời của doanh nghiệp phát hành, những thông tin chi tiết về những thành viên lãnh đạo cốt lõi trong doanh nghiệp phát hành. Về phía doanh nghiệp phát hành, lý do chính buộc những doanh nghiệp phải sử dụng nhà cung cấp tư vấn của tổ chức bao tiêu chứng khoán trong ngành này là vì, một mặt, bất cứ mang một sơ sót nào trong những thông tin từ bản cáo bạch cũng mang thể dẫn tới tranh chấp, kiện tụng giữa những người nắm giữ chứng khoán và doanh nghiệp phát hành; Mặt khác, tổ chức bao tiêu chứng khoán là định chế tài chính có thương hiệu, mang kỹ năng nghề nghiệp trong việc giúp những doanh nghiệp phát hành chuẩn bị những hồ sơ cần thiết để phục vụ yêu cầu về công bố thông tin đúng quy định của pháp luật. Chức năng tư vấn khác của tổ chức bao tiêu chứng khoán là tư vấn về việc xác định giá bán cho những chứng khoán mới ddược phát hành. Kinh nghiệm của tổ chức bao tiêu chứng khoán trong việc xác định điều kiện của thị trường, nhu cầu về chứng khoán của doanh nghiệp phát hành sẽ tạo điều kiện cho những doanh nghiệp phát hành xác định một giá chào bán hợp lý và cơ cấu hợp lý.
Quá trình bao tiêu những đợt phát hành chứng khoán mới là một nhà cung cấp quan yếu khác được những tổ chức bao tiêu chứng khoán phân phối. Trong hoạt động bao tiêu chứng khoán, tổ chức bao tiêu chứng khoán mang thể hoạt động với tư cách là nhà chủ lý (principal) tức là một nhà kinh doanh chứng khoán (supplier) hoặc hoạt động cới tư cách là nhà đại lý (agent) hay nhà môi giới (dealer). Điểm khác nhau cơ bản giữ nhà chủ lý (nhà kinh doanh) và nhà đại lý (nhà môi giới) là nếu như kinh doanh ko hưởng huê hồng tậu bán vì họ tậu bán cho chính mình và gánh chịu mọi rủi ro nếu mang thì nhà môi giới thay mặt khách hàng thực hiện tậu bán để hưởng huê hồng. Với tư cách là nhà chủ lý, tổ chức bao tiêu chứng khoán thoả thuận với nhà phát hành (bao tiêu toàn bộ) ở mức giá thấp hơn mức giá chào bán cho công chúng (giá đặt tậu) và rồi bán laị cho công chúng với mức giá cao hơn (giá chào bán). Chênh lệch giữa giá đặt tậu và giá chào bán chính là phần lợi nhuận bù đắp cho những rủi ro mang thể mang trong việc tậu bán lại những chứng khoán được tậu từ nhà phát hành. Tuỳ thuộc vào quy mô của đợt phát hành, mức rủi ro do biến động giá cả, những điều kiện thị trường và những nhân tố khác tác động tới sức cầu chứng khoán mà mức chênh lệch này mang thể được ấn định cao hay thấp. Loại thoả thuận (dàn xếp) này được gọi là cam kết bao tiêu cứng cáp. Thông thường, tổ chức bao tiêu chứng khoán chỉ thực hiện hình thức này cho những doanh nghiệp to, mang uy tín cao trên thương trường. Bằng cam kết này, tổ chức bao tiêu chứng khoán bảo đảm (assure) rằng nhà phát hành sẽ nhận đầy đủ số tiền bán khối lượng chứng khoán đã phát hành theo giá đã thoả thuận mặc dù tổ chức chứng khoán mang bán hết số chứng khoán đã tậu hay ko.
Khác với hình thức cam kết bao tiêu cứng cáp, lúc thực hiện bao tiêu theo hình thức cam kết với mức tối đa, tổ chức bao tiêu chứng khoán chỉ cam kết bán càng nhiều càng tốt những chứng khoán phát hành chứ ko tậu toàn bộ những chứng khoán được phát hành và ko chịu trách nhiệm tài chính gì đối với phần chứng khoán ko được bán hết. Lúc thực hiện bao tiêu dưới hình thức cam kết tới mức tối đa tổ chức bao tiêu chứng khoán giữ vai trò là nhà đại lý.
Trong vai trò của một nhà chủ lý, tổ chức bao tiêu chứng khoán cũng mang thể đóng vai trò là nhà bao tiêu dự phòng trong trường hợp doanh nghiệp phát hành những cổ phiếu đặc quyền dăng ký tậu trước. Đặc quyền này cho phép những cổ đông hiện tại được quyền tậu một phần những chứng khoán mới được phát hành trong một thời kì khăng khăng (thường là 30 tới 60 ngày), trước lúc phát hành cổ phiếu ra cho công chúng. Trong trường hợp này, nhà phát hành mang thể đề nghị tổ chức bao tiêu chứng khoán thực hiện một cam kết theo đó tổ chức bao tiêu chứng khoán sẽ tậu tất cả những cổ phần mang đặc quyền đăng ký tậu trước nhưng ko được tậu. Loại cam kết này được gọi là cam kết bao tiêu dự phòng.
Thông thường, những tổ chức bao tiêu chứng khoán mang thể thực hiện bao tiêu theo hai cơ chế: bao tiêu thương lượng và bao tiêu đấu giá. Trong cơ chế bao tiêu thương lượng, nhà phát hành và nhà bao tiêu sẽ thương lượng về những điều khoản cung ứng, giá bán ra và lệ phí cho nhà bao tiêu. Trong cơ chế bao tiêu đấu giá (bao tiêu theo giá đặt tậu mang tính khó khăn), nhà phát hành sẽ thông tin ý định phát hành chứng khoán, mời những nhà bao tiêu đặt tậu chứng khoán và nhà phát hành sẽ chọn nhà bao tiêu nào đặt tậu với giá cao nhất. Tại nhiều nước, hình thức bao tiêu đấu giá thường được vận dụng cho việc bao tiêu phát hành trái phiếu Chính phủ.
Một nhà cung cấp khác cũng được tổ chức bao tiêu phân phối là dịnh vụ phân phối chứng khoán tới những nhà đầu tư. Trong thực tế, những chứng khoán phát hành lần đầu của một tổ chức phát hành mang thể được phân phối qua ba kênh khác nhau (bán riêng, bán cho những cổ đông theo những đặt quyền đăng ký tậu trước và bán công khai) và dưới hai phương thức khác nhau: chào bán gián tiếp và trực tiếp mang hoặc ko mang sự tham gia của tổ chức bao tiêu,( sơ đồ những kênh phân phối chứng khoán trong phát hành lần đầu). Trong hình thức tậu bán riêng, tổ chức bao tiêu mang thể tìm được phát hành và đứng ra dàn xếp một giao dịch trực tiếp giữa nhà phát hành và nhà đầu tư nay.   Trong hình thức tậu bán riêng này, tổ chức bao tiêu được lợi phí cho những nhà cung cấp dàn xếp giao dịch (môi giới), xác định giá cả công bằng và thực hiện giao dịch.

Khác với hình thức phân phối (tậu bán) riêng, trong hình thức tậu bán công khai, thông qua một hoặc hai tổ chức bao tiêu chứng khoán chính. Tuỳ thuộc vào quy mô của đợt phát hành, để san sớt rủi ro, tổ chức bao tiêu chứng khoán làm nhiệm vụ quản lý bao tiêu chính sẽ tổ chức một nhóm gồm những tổ chức chứng khoán khác tham gia vào việc phân phối những chứng khoán. Nhóm những tổ chức bao tiêu chứng khoán này được gọi là nhóm bao tiêu, nhóm tậu hoặc tổ hợp bao tiêu chứng khoán.

Những thành viên của tổ hợp bao tiêu ký cam kết với nhà bao tiêu chính (nhà quản lý phát hành) trong việc hợp tác để phân phối chứng khoán mới được phát hành tới công chúng. Thoả thuận của những thành viên trong nhóm bao tiêu chứng khoán ghi rõ trách nhiệm của những thành viên, nhà bao tiêu chính và lợi nhuận sẽ được phân bố. Ngoài ra, để gia tăng năng lực phân phối chứng khoán, tổ chức bao tiêu chứng khoán (tổ chức chứng khoán) mang thể hình thành nhóm bán. Nhóm bán bao gồm những thành viên của tổ hợp bao tiêu và những tổ chức bao tiêu chứng khoán ko phải là thành viên của tổ hợp bao tiêu. Tương tự, với vai trò nhà bao tiêu chính, tổ chức bao tiêu chứng khoán chỉ đạo toàn bộ tiến trình bao tiêu gồm việc thiết lập thoả thuận giữa những thành viên thuộc tổ hợp bao tiêu, ấn định trách nhiệm pháp lý của những thành viên và ấn định tiền công (phí); nhận cam kết về số chứng khoán sẽ bao tiêu của những thành viên; xác định số lượng chứng khoán mà mỗi tổ chức trong nhóm sẽ bán; phân bố lại số chứng khoán chưa bán hết cho những thành viên khác mang nhu cầu thêm hoặc cho thành viên nhóm bán khác; thiết lập nhóm bán để tương trợ cho việc phân phối chứng khoán và thỏa thuận bao tiêu với nhà phát hành. Những thành viên của nhóm tậu chủ yếu là những tổ chức chứng khoán to mang quan hệ giao dịch thường xuyên với nhau và với một số những tổ chức chứng khoán đóng vai trò là người môi giới chứng khoán sau hết cho những nhà đầu tư. Khối lượng phát hành chứng khoán càng to đòi hỏi mạng lưới phân phối càng to để phân phối chứng khoán tới người tậu cuối cùng.

4/5 - (2 bình chọn)

Bình luận