Quan niệm về phát triển dịch vụ ngân hàng và chỉ tiêu định lượng về dịch vụ.

Phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít tới nhiều, hẹp tới rộng, thấp tới cao, thuần tuý tới phức tạp” còn “đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với dòng trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc lậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”.

Theo quan niệm của triết học duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp tới cao. Phát triển ko chỉ đơn thuần tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn với sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Phát triển là thiên hướng vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ thuần tuý tới phức tạp, từ kém hoàn thiện tới hoàn thiện do việc khắc phục tranh chấp, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định. Tương tự, phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng. Phát triển DVNH được hiểu là mở rộng DVNH về quy mô đồng thời gia tăng chất lượng nhà cung cấp. Tổng kết lại, từ những quan niệm trên về phát triển nhà cung cấp, tác giả cho rằng: Phát triển DVNH là việc nhà băng tạo ra sự biến đổi về mặt lượng và mặt chất của những nhà cung cấp. Theo đó về mặt lượng thể hiện là sự gia tăng quy mô số lượng những nhà cung cấp. Về mặt chất là việc gia tăng những tiện ích phân phối thích hợp với khả năng của nhà băng theo mục tiêu và định hướng phát triển của nhà băng cũng như của nền kinh tế.

Tiêu chí định lượng giám định sự phát triển DVNH là sự gia tăng quy mô số lượng những nhà cung cấp. Những tiêu chí bao gồm: (1) Số lượng, chủng loại; (2) Quy mô, doanh số; (3) Đối tượng, số lượng khách hàng; (4) Thị trường; (5) Hệ thống chi nhánh, kênh phân phối; (6) Thu nhập.

Một là, số lượng, chủng loại DV. Tiêu chí này thể hiện tính nhiều của DV mà một NHTM mang tới cho khách hàng. Những DV nhiều sẽ giúp nhà băng với thời cơ đáp ứng nhu cầu khách hàng và tăng doanh thu. Sự nhiều hóa cần phải được thực hiện trong tương quan so với nguồn lực hiện với của nhà băng. Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, nên nhà băng ko ngừng phải phân phối cho khách hàng những DV tốt nhất đặc trưng là xu hướng liên kết những DV thành những “gói hàng” nhiều và tiện lợi. Những nhà băng đa năng còn chủ động khó khăn bằng cách lấn sang những hoạt động phi nhà băng khác như phân phối DV bảo hiểm, môi giới tư vấn đầu tư… Như thế nhà băng vừa thu được nhiều lợi nhuận vừa tránh bớt rủi ro trong kinh doanh.

Hai là, quy mô, doanh số DV. Một NHTM đƣợc giám định là nhà băng phát triển DV, trước hết phải giải quyết được nhu cầu của những đối tượng khách hàng. Mức độ đáp ứng yêu cầu khách hàng càng cao, khách hàng sử dụng DVNH càng nhiều đẫn tới số lượng DV cung ứng ra thị trường càng to. Tìm hiểu sự gia tăng quy mô DV người ta giám định theo từng giai đoạn, từng thời kỳ. Việc giám định sự tăng trưởng quy mô nhà cung cấp cung ứng thực hiện theo công thức sau:

Doanh số là tiêu chí hết sức quan yếu để giám định sự phát triển DV. Doanh số hoạt động càng to tức là lượng khách hàng sử dụng DV ngày càng cao, thị trường càng nhiều. Đây chính là kết quả tổng hợp của việc mở rộng và tăng chất lượng DV.

Ba là, đối tượng, số lượng khách hàng. Một NHTM được giám định là nhà băng phát triển DV, trước hết phải giải quyết được nhu cầu của những đối tượng khách hàng. Mức độ đáp ứng yêu cầu khách hàng càng cao, khách hàng sử dụng DVNH càng nhiều đẫn tới số lượng DV cung ứng ra thị trường càng to.

Bốn là, thị trường. Thị trường là phần thị trường mà nhà băng nắm giữ được.

Đây là tiêu chí chung để giám định sự phát triển của bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Việc giám định sự gia tăng thị trường của một NHTM được thực hiện theo công thức sau:

Số lượng khách hàng càng đông, thị trường càng to chứng tỏ nhà băng đó đã thành công trong việc đưa DV ra thị trường.Tuy nhiên, nếu thị trường sút giảm chưa thể khẳng định chất lượng DV của nhà băng với vấn đề, lúc đó cần phải xem xét yếu tố khách quan liệu với sự gia tăng những đối thủ phân phối loại hình DV này dẫn tới chiếc bánh thị trường bị san sớt hay ko? Nhà băng nào với chất lượng phục vụ tốt, nhiều về DV, đánh vào tâm lý người tiêu sử dụng về lãi suất, tính tiện ích… sẽ giành được thắng lợi. Tương tự, tiêu chí thị trường DVNH trên thị trường cũng được coi là tiêu chí quan yếu trong giám định sự phát triển của DV của NHTM.

Năm là, hệ thống chi nhánh, kênh phân phối. Hệ thống chi nhánh thể hiện qua số lượng những Chi nhánh đang hoạt động. Đây là phương thức tiếp cận khách hàng trực tiếp tại quầy giao dịch. Hệ thống chi nhánh rộng to thể hiện tiềm lực của những nhà băng là một trong những phương thức quảng bá thương hiệu của NHTM. Hiện nay, kênh phân phối truyền thống đang dần bộc lộ những hạn chế về mặt thời kì và ko gian lúc nhu cầu sử dụng DV của những khách hàng đòi hỏi đáp ứng mọi lúc mọi nơi. Do đó, xu hướng mở rộng thêm những kênh phân phối và mạng lưới với những thiết bị trên nền tảng kỹ thuật cao đang rất cần thiết trong cuộc khó khăn “tranh giành‟ khách hàng giữa những NHTM. Với thể kể tới một số kênh phân phối hiện nay như: Web Banking, Cellphone Banking, Dwelling Banking… .

Sáu là thu nhập. Mục tiêu cuối cùng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn đạt tới là tối đa hóa lợi nhuận, tuy kinh doanh trong ngành đặc trưng nhưng nhà băng cũng ko phải là một ngoại lệ. Đây là tiêu chí phản ánh hiệu quả của việc phát triển DV đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Nhà sản xuất nhà băng chỉ được coi là phát triển toàn diện lúc lợi nhuận mà nhà băng thu được cũng phải tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra.

Tiêu chí về sự gia tăng Hiệu quả hoạt động là tiêu chí tổng hợp và phản ánh kết quả của quá trình phát triển DV của một NHTM. Đối với mỗi DV cung ứng ra thị trường tiêu chí về hiệu quả hoạt động là tiêu chí với ý nghĩa quyết định việc tiếp tục phát triển DV hay tạm giới hạn triển khai DV nếu hiệu quả mang lại ko như kỳ vọng đặt ra. Từ đó Ban lãnh đạo với những quyết sách kịp thời liên quan tới chiến lược hoạt động, chiến lược CNTT, điều chỉnh tầng lớp khách hàng, chính sách chăm sóc khách hàng,… nhằm góp phần tăng năng lực khó khăn và hiệu quả hoạt động của NHTM.

Rate this post

Bình luận