Thị trường xuất khẩu của các nước EU (số liệu tham khảo)

Thị trường xuất khẩu.

– Cơ cấu thị trường xuất khẩu: Trong những năm sắp đây, EU là thị trường xuất khẩu to thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ) và đối tác thương nghiệp to thứ hai của Việt Nam (sau TQ). Xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và EU gia tăng mạnh mẽ giai đoạn 2000-2016 là bằng cớ cho sự thành công của Việt Nam trong việc xúc tiến hợp tác thương nghiệp với EU. Số liệu tại phụ lục 3 cho thấy trong số những nước EU, Đức, Pháp, Anh, Ý, Hà Lan là những thị trường xuất khẩu hàng chế biến to nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu của nhóm hàng này đã giảm dần tỷ trọng ở những thị trường to như Đức, Pháp, Anh, Ý. Tại thị trường Đức, tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam giảm từ 25,18% năm 2000 xuống 21,23% năm 2005 và giảm còn 21,03% năm 2016. Ở Pháp, năm 2000 tỷ trọng xuất khẩu là 17,18%, tới năm 2010 giảm xuống 13,11% và năm 2016 con số này là 11,11%. Xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường Anh sở hữu xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2000-2004, chiếm tỷ trọng từ 18,2% năm 2000 lên 22,51% năm 2004, nhưng đã giảm dần trong những giai đoạn tiếp theo và chỉ còn 11,4% năm 2016. Kết quả cho thấy rằng, mặc dù tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến tại những thị trường Hà Lan biến động tăng giảm nhưng nhìn chung đang sở hữu chiều hướng cải thiện trong những năm sắp đây.

Những thị trường Áo, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển là những thị trường nhỏ hơn cùng sức tiêu thụ hàng hoá thấp nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sắp như ko đáng kể , những nước còn lại tỷ trọng kim ngạch đều chỉ ở mức khiêm tốn.

– Mức độ nhiều hóa thị trường xuất khẩu: Mức độ nhiều hóa thị trường xuất khẩu được thể hiện dưới bảng sau đây.

Số liệu tại bảng trên cho thấy rằng, xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU sở hữu chiều hướng chuyển từ chuyên môn hóa sang nhiều hóa thị trường xuất khẩu. Điều này th hiện mức độ phụ thuộc của xuất khẩu hàng chế biến vào một thị trường sở hữu xu hướng giảm. Nhóm hàng SITC-6, SITC-8 là những nhóm hàng sở hữu xu hướng nhiều hóa thị trường xuất khẩu. Trong lúc đó, nhóm hàng SITC-7 lại là nhóm hàng sở hữu mức độ tập trung vào một số thị trường tăng dần. Tương tự, đối với những mặt hàng xuất khẩu thuộc nhóm SITC-7, Việt Nam sở hữu xu hướng tập trung xuất khẩu nhiều hơn vào một số thị trường.

Thị trường xuất khẩu chủ lực: Bảng 3.8 trình bày tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang 10 thị trường xuất khẩu to nhất.

Qua bảng trên ta thấy 10 thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chiếm trên 90% trong tổng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU. Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang từng quốc gia nói trên sở hữu sự thay đổi nhất định qua những năm nhưng tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến sang 10 thị trường này hầu như ko thay đổi.

Trong số 10 quốc gia nói trên, Đức là thị trường xuất khẩu quan yếu nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường này sở hữu xu hướng giảm dần. Tương tự tương tự, tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam vào những thị trường Vương quốc Anh và Pháp cũng sở hữu xu hướng giảm dần. Trái lại, tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang Hà Lan, Áo và Cùng hòa Slovakia lại sở hữu xu hướng tăng dần. Điều này cho thấy đây là những thị trường tiềm năng của Việt Nam.

Rate this post

Bình luận