Tính đa dạng và năng lực của các thành viên tham gia thị trường

Số lượng thành viên tham gia thị trường tăng lên qua những năm, đặc trưng là ở thị trường liên nhà băng và thị trường mở với sự tham gia của hầu hết những loại hình TCTD từ NHTM nhà nước, những NHTM cổ phần và nhà băng nước ngoài tới những doanh nghiệp tài chính, bảo hiểm. Hiện chỉ mang thị trường sắm bán trái phiếu/tín phiếu Chính phủ là hạn chế đối tượng tham gia thị trường (phải đáp ứng những điều kiện cụ thể do NHNN xem xét, quyết định). Thị trường này cũng bị những TCTD chi phối bởi (TCTD nắm trên 50% lượng trái phiếu Chính phủ phát hành).
Tính tới nay, TTTT Việt Nam đã mang hơn 110 TCTD được phép tham gia bao gồm những NHTM Việt Nam, chi nhánh nhà băng nước ngoài, doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp cho thuê tài chính, nhà băng chính sách, nhà băng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng vi mô (tuy nhiên, hiện nay chưa mang sự tham gia của loại hình tổ chức này); trong đó những NHTM là thành viên hoạt động chủ yếu, chiếm trên 85% doanh số giao dịch của thị trường.
Năng lực của những tổ chức trung gian tài chính tham gia thị trường ngày càng tăng, tương trợ cho sự phát triển của thị trường tiền tệ
Năng lực của những thành viên cũng được củng cố thông qua quá trình cơ cấu lại giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020.
Số lượng những TCTD mang quy mô nhỏ, hoạt động yếu kém giảm dần từ cuối năm 2011. Tính tới 31/12/2015, số lượng những TCTD, chi nhánh nhà băng nước ngoài đã giảm 20 tổ chức so với năm 2011 thông qua những hình thức sáp nhập, thống nhất, sắm lại, kết thúc hoạt động.Số lượng NHTM cổ phần tư nhân mang xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2006-2010 nhưng đã giảm dần trong giai đoạn 2011-2016, từng bước mang sự lựa chọn, loại bỏ những NHTM yếu kém. Tái cơ cấu những nhà băng đã được thực thi một cách thận trọng, gắn liền với những quy định tạm ngừng hoặc kiểm soát chặt chẽ việc mở rộng mạng lưới. Đã mang 7 NHTM cổ phần thực hiện việc sáp nhập vào những NHTM cổ phần khác, 3 NHTM cổ phần được NHNN sắm lại với giá 0 đồng, và ko mang thêm NHTM mới nào được thành lập trong giai đoạn này. Việc mở rộng mạng lưới, chi nhánh những nhà băng cũng bị giới hạn theo Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 9/9/2013. Trong giai đoạn 2011-2015, số lượng những TCTD, chi nhánh nhà băng nước ngoài đã giảm 20 tổ chức.
Năng lực tài chính của hệ thống những TCTD đã được cải thiện rõ rệt với sự tăng trưởng liên tục cả về vốn và tài sản. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cả về vốn và tài sản của những TCTD giai đoạn này so với giai đoạn trước đã mang xu hướng chậm lại, tốc độ tăng vốn bình quân chỉ đạt dưới 10%/năm, và tốc độ tăng trưởng tài sản đạt bình quân 11,2% ở nhóm NHTM nhà nước và 8,64% ở nhóm NHTM cổ phần. Tốc độ tăng trưởng giảm trong giai đoạn này một mặt do tác động của bối cảnh kinh tế suy giảm dẫn tới những TCTD gặp trắc trở trong hoạt động, mặt khác phản ánh đúng xu hướng tái cấu trúc tập trung vào xử lý những TCTD yếu kém và tăng chất lượng vốn và tài sản của những nhà băng.
Tình hình thanh khoản của hệ thống được ổn định và củng cố. Những chỉ số phản ánh khả năng chi trả của những TCTD đều được cải thiện, cụ thể từ 2011-2016: tỷ lệ an toàn vốn tuần tự trong những năm là: 12,9%, 13,75%, 13,25%, 12,75%, 13% và 12,84%, luôn đạt cao hơn mức quy định là ko dưới 9%. Tỷ lệ tín dụng/huy động vốn thị trường 1 (là thị trường cho vay, gửi tiền giữa NHTM với những tư nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế) giảm dần từ 102,36% năm 2011 xuống còn 95,02% năm 2016; hầu hết những TCTD đều đáp ứng đầy đủ yêu cầu về khả năng chi trả theo quy định.
Chất lượng tài sản của những TCTD đã từng bước được lành mạnh hóa thông qua việc quyết liệt xử lý nợ xấu. Nhiều giải pháp đã được sử dụng như yêu cầu TCTD tăng cường trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng trích lập dự phòng rủi ro, chuyển nợ thành vốn góp, đôn đốc thu hồi nợ, xử lý tài sản đảm bảo; thành lập Doanh nghiệp quản lý tài sản của những TCTD Việt Nam (VAMC) và tiến hành sắm lại nợ xấu bằng trái phiếu đặc trưng. Đồng thời, hệ thống nhà băng cũng quyết tâm thực hiện mang lộ trình chuẩn mực mới, chặt chẽ hơn về phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro (theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 09/2014/TT-NHNN); thanh tra, kiểm toán độc lập về chất lượng tín dụng đối với những NHTM theo chuẩn mực phân loại nợ mới để giám định xác thực hơn nợ xấu và mang giải pháp xử lý thích hợp. Nhờ đó, nợ xấu đã được kiềm chế và xử lý một khối lượng đáng kể, đồng thời cũng được nhận diện xác thực và kiểm soát tốt hơn.Tới cuối tháng 12/2015, hệ thống TCTD đã xử lý được số nợ xấu to hơn số nợ xấu của những TCTD ước tính tại thời khắc cuối tháng 9/2012 và chất lượng tín dụng được cải thiện. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu năm 2015 chỉ còn khoảng 2,55% và 2016 còn 2,46% (tỷ lệ nợ xấu ước tính tháng 9/2012 là 17,2%).

Rate this post

Bình luận