Xây dựng định mức phân bổ/Hoàn thiện cơ chế phân bổ chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập theo kết quả thực hiện nhiệm vụ

Đối với chi thường xuyên:

Luật NSNN 2015, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ đã quy định về QLNS theo kết quả thực hiện nhiệm vụ và giao Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để tỉnh Thanh Hóa thực hiện quản lý NSĐP nói chung, quản lý chi NSĐP cho GDCL nói riêng theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Mặc dù đã được quy định trong Luật NSNN, nhưng trên thực tế, cơ chế phân bổ ngân sách theo kết quả mới chỉ trong giai đoạn bắt đầu triển khai và chưa được định hình rõ ràng, cụ thể. Tiêu chí phân bổ ngân sách là các tiêu chí đầu vào; định mức phân bổ NSNN còn chưa phù hợp. Trong giai đoạn 2016 – 2020, phân bổ chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục ở địa phương đang thực hiện theo quyết định 46/2016/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tiêu chí chính là dân số trong độ tuổi đến trường từ 1 – 18 tuổi, có sự phân biệt theo 04 vùng: Đô thị; đồng bằng; miền núi – vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu và vùng cao – hải đảo. Định mức này có ưu điểm là đơn giản, rõ ràng, minh bạch dựa trên các số liệu công bố của Tổng cục Thống kê để tính toán phân bổ ngân sách. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản là tiêu chí này chưa thực sự gắn chặt với các tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Tại Thanh Hóa, định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL giai đoạn 2017-2020 chủ yếu nhằm mục đích xử lý các bất cập của định mức giai đoạn 2011-2016. Do đó, định mức phân bổ NSĐP cho giáo dục được ban hành tại Quyết định 4762/QĐ-UBND ngày 09/12/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa vẫn lấy biên chế làm trung tâm, hoàn toàn dựa trên yếu tố đầu vào (chi phí thanh toán cho cá nhân và chi nghiệp vụ), chưa tính đến khả năng huy động nguồn thu của các cấp học và sự tác động của chỉ số giá tiêu dùng. Với định mức phân bổ như vậy sẽ làm tăng tính bao cấp của NSNN đối với các đơn vị SNGD công lập và không khuyến khích các đơn vị nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ để cạnh tranh thu hút người học và tăng cường tự chủ để phát triển nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi của đơn vị.

Vì vậy, để cơ chế phân bổ chi NSĐP thực sự góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NSĐP cho GDCL trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy các đơn vị phát huy tự chủ cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện như sau:

Một là, lựa chọn học sinh làm đối tượng xây dựng định mức phân bổ dự toán NSNN chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục.

Theo tiêu chí này, chi NSĐP cho các đơn vị SNCL ngành giáo dục được phân bổ trên cơ sở số học sinh của các cấp học và định mức chi phí cho 01 học sinh. Lựa chọn học sinh làm đối tượng xây dựng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSĐP cho sự nghiệp giáo dục thay cho tiêu chí biên chế nhằm tạo động lực khuyến khích các địa phương tăng tỷ lệ nhập học, đẩy mạnh và duy trì thành quả phổ cập giáo dục, bảo đảm gắn kết chặt chẽ việc phân bổ ngân sách tới đối tượng sử dụng ngân sách là học sinh. Phân bổ ngân sách theo cách này cũng sẽ khuyến khích các đơn vị nâng cao trách nhiệm và tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ, từ đó tăng tính cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ. Trên cơ sở đó, tiến tới giao nhiệm vụ và đặt hàng cho các đơn vị SNCL trong cung cấp dịch vụ giáo dục.

Hai là, điều chỉnh hệ số định mức phân bổ ưu tiên theo vùng và theo cấp học.

Việc áp dụng hệ số định mức khác nhau giữa các vùng là cần thiết vì Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích rất rộng, địa hình phân bố đa dạng và phức tạp, điều kiện KTXH còn nhiều khó khăn, số lượng học sinh phân bố không đều giữa các khu vực. Hơn nữa, tỷ lệ học sinh/lớp, phụ cấp giáo viên, tỷ lệ giáo viên/lớp, chế độ học bổng chính sách, khả năng thu học phí… giữa các vùng và các cấp học là khác nhau. Mục đích áp dụng hệ số định mức phân bổ ưu tiên theo vùng là nhằm tạo điều kiện cho các vùng có khó khăn hơn về khả năng huy động các nguồn tài chính có được ngân sách cần thiết để tăng khả năng tiếp cận giáo dục cho người dân, giảm khoảng cách chênh lệch về phát triển giáo dục giữa vùng khó khăn và và các vùng có điều kiện KTXH thuận lợi. Mặt khác, cách phân bổ này cũng thúc đẩy các vùng có điều kiện KTXH phát triển đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục.

Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa cũng đã xây dựng định mức phân bổ theo 4 vùng là thành phố, thị xã; đồng bằng; núi thấp và núi cao. Tuy nhiên, hệ số ưu tiên khi xác định định mức phân bổ chưa hợp lý. Để đảm bảo sự phù hợp hơn trong phân bổ ngân sách, ngoài việc nên duy trì 4 vùng như trên để phản ánh sát thực sự khác biệt về trình độ phát triển KTXH, giáo dục và chi phí giáo dục. Theo đó, định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL được phân chia thành 4 mức theo 4 khu vực nói trên. Tỉnh cũng cần xem xét  điều chỉnh hệ số định mức phân bổ giữa các vùng hợp lý hơn, theo hướng ưu tiên hơn nữa cho các vùng đồng bằng, núi thấp – vùng sâu, núi cao – hải đảo.

Mặt khác, đối với các cấp học khác nhau của giáo dục phổ thông (mầm non, tiểu học, THCS, THPT), do chính sách phổ cập giáo dục của Nhà nước và khả năng tự chủ của các cấp học nên định mức phân bổ cũng cần  tính đến sự khác biệt. Đối với giáo dục phổ thông, Nhà nước cần ưu tiên và đảm bảo nguồn lực từ NSNN cho các cấp học thấp (nhất là tiểu học, hoặc/và THCS) và đẩy mạnh giao tự chủ cho các cấp học cao (THPT).

Định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL xác định cho năm đầu thời kỳ ổn định và hằng năm có thực hiện điều chỉnh theo hướng giảm dần mức hỗ trợ từ NSNN cho các cơ sở giáo dục có huy động nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp theo lộ trình điều chỉnh học phí, phù hợp với quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp và Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021.

Đồng thời, xác định mức thu học phí theo từng khu vực, từng cấp học có tính đến sự tác động của chỉ số giá tiêu dùng. Tỉnh cần bổ sung quy định điều chỉnh thay đổi định mức hằng năm theo chỉ số giá tiêu dùng do Bộ KH&ĐT công bố nhằm đảm bảo cho định mức phân bổ có tính thực tiễn cao, đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị.

Ba là, NSĐP bảo đảm tỷ lệ chi ngoài lương trong định mức chi sự nghiệp giáo dục tối thiểu đạt 20%.

Để đảm bảo các điều kiện về tài liệu, trang thiết bị dạy và học đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa chất lượng giáo dục, cần đảm bảo tỷ lệ chi ngoài lương trong định mức chi SNGD tối thiểu đạt 20%.

Cơ chế phân bổ NSĐP cho giáo dục nói trên có ưu điểm chỉnh là đảm bảo ngân sách phân bổ sát với đối tượng sử dụng kinh phí trong giáo dục là học sinh. Cách phân bổ này cũng đảm bảo sự quan tâm của địa phương đến phát triển sự nghiệp giáo dục ở các vùng có điều kiện KTXH khó khăn, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ học tập của mọi người dân, giảm dần khoảng cách chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng. Ngoài ra, nó còn thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở các vùng có điều kiện KTXH phát triển. Để thực hiện xây dựng định mức phân bổ ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, cần thực hiện một số nội dung sau:

– Xác định mức chi phí cho giáo dục của cơ sở GDCL để thực hiện các hoạt động giảng dạy, học tập đối với 01 học sinh trong 01 năm theo từng khu vực (thành phố, thị xã; đồng bằng, miền núi) và có tính đến sự tác động của sự thay đổi chính sách tiền lương và chỉ số giá tiêu dùng.

Chi phí cho giáo dục của các cơ sở GDCL cần tính đầy đủ chi phí tiền lương; chi hoạt động chuyên môn, quản lý và chi phí khấu hao TSCĐ.

Các đơn vị SNGD công lập ở các khu vực địa bàn dân cư khác nhau sẽ có mức chí hoạt động chuyên môn, chi phí quản lý khác nhau do điều kiện về vị trí địa lý, thị trường tác động đến giá cả sinh hoạt ở từng khu vực. Ở khu vực thành phố, thị xã và khu vực miền núi thường có chi phí cao hơn do ảnh hưởng của mức sống, giá cả sinh hoạt hoặc tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường.

– Xác định mức thu học phí theo từng khu vực, từng cấp học có tính đến sự tác động của chỉ số giá tiêu dùng theo quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ.

– Xác định mức phân bổ NSĐP  cho 01 học sinh

Theo tiêu chí phân bổ là “học sinh”, định mức phân bổ NSĐP được xác định trên cơ sở chi phí đào tạo và mức thu học phí/01 học sinh/01 năm. Định mức này được tính toán cho từng cấp học và được điều chỉnh theo hệ số ưu tiên cho từng khu vực.  Cụ thể như sau:

Định mức phân bổ chi NSĐP được xác định là chênh lệch giữa chi phí nghiệp vụ/01 học sinh/01 năm và mức thu học phí/01 học sinh/01 năm. Ngoài ra, định mức phân bổ NSĐP cho GDCL sẽ được điều chỉnh theo sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng và có phân biệt theo điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư cũng như khả năng đóng góp của người dân.

Với việc áp dụng định mức phân bổ theo tiêu chí như vậy sẽ thúc đẩy các đơn vị SNGD công lập sắp xếp lại bộ máy để phù hợp với vị trí việc làm được phê duyệt, nâng cao chất lượng giáo dục để thu hút học sinh, tăng cường tính cạnh tranh giữa các cơ sở, từ đó, tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện chế độ đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ giáo dục.

Lộ trình thực hiện:

Trước mắt, việc phân bổ NSĐP cho giáo dục như vậy sẽ gây khó khăn về ngân sách ở các địa phương chưa có quy hoạch hợp lý mạng lưới các cơ sở giáo dục, thừa thiếu biên chế giáo viên cục bộ, hay các trường có số lượng học sinh ít… Hạn chế này có thể được khắc phục bằng cách bổ sung ngân sách có mục tiêu trong một thời gian nhất định. Tỉnh quy định cụ thể thời hạn này để ngành giáo dục quy hoạch lại mạng lưới và sắp xếp lại biên chế giáo viên cho phù hợp. Vì vậy, việc xây dựng định mức phân bổ NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ cần có lộ trình chuyển đổi phù hợp.

Giai đoạn đầu có thể thực hiện phân bổ chi NSĐP cho GDCL theo tiêu chí kết hợp. Cụ thể như sau:

– Tiêu chí phân bổ: phân bổ theo biên chế được cấp có thẩm quyền giao đối với chi tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản có tính chất lương và các khoản đóng góp theo lương; phân bổ chi nghiệp vụ theo số học sinh thực hiện hằng năm.

– Định mức phân bổ: các khoản chi thanh toán cá nhân cho biên chế như đã nêu trên được xác định theo chính sách tiền lương và các chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, chính sách đối với các khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Nhà nước; định mức chi nghiệp vụ theo học sinh thực hiện hằng năm xây dựng trên cơ sở đảm bảo đủ các chi phí về nghiệp vụ chuyên môn (giáo trình, tài liệu, nguyên nhiên vật liệu thực hành….), các khoản chi phục vụ quản lý và đảm bảo tỷ lệ chi nghiệp vụ – chi thanh toán cá nhân tối thiểu đạt 20:80. Các khoản chi này được xác định trên cơ sở định mức kinh tế – kỹ thuật, giá cả thị trường tại thời điểm xây dựng định mức và có tính đến yếu tố biến động của giá cả thị trường. Đồng thời, để đảm bảo tính khả thi của định mức, cần phân loại thành các nhóm định mức theo quy mô hoạt động của các cơ sở giáo dục và các nhóm trường theo kết quả đánh giá chất lượng đào tạo.

Bên cạnh việc áp dụng hệ thống tiêu chí chuyển tiếp đó, tỉnh cần có lộ trình cắt giảm biên chế, sắp xếp, đổi mới lại bộ máy tổ chức của các đơn vị theo đề án vị trí việc làm được phê duyệt, để từ đó, giao quyền tự chủ cho Hiệu trưởng, BGH các trường trong việc tổ chức, sắp xếp bộ máy phù hợp với nhiệm vụ được giao.

Giai đoạn tiếp theo, sau khi đã quy hoạch lại mạng lưới các trường ở các cấp, sắp xếp lại nhân sự toàn ngành giáo dục sẽ áp dụng định mức phân bổ chi NSĐP dựa trên tiêu chí số học sinh. Đồng thời tiến đến thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ giáo dục một cách phù hợp, mang lại hiệu quả trong công tác quản lý chi NSĐP cho GDCL.

Để đảm bảo tính khả thi của phương pháp, cần đảm bảo các điều kiện sau:

– Dữ liệu thống kê về học sinh theo vùng, học sinh CL và NCL của từng vùng, số lớp học, mức thu học phí… bảo đảm trung thực, khách quan.

– Quy hoạch hợp lý mạng lưới các CSGD, sắp xếp lại biên chế giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục công lập một cách hợp lý.

– Các chuẩn định mức trong lĩnh vực giáo dục phải được tiếp tục hoàn chỉnh đồng bộ và đầy đủ như tỷ lệ học sinh/lớp, tỷ lệ giáo viên/học sinh, số tiết chuẩn chương trình của một cấp học, định mức tiết giảng/giáo viên, tỷ lệ cán bộ quản lý/học sinh…

Đối với chi ĐTPT:

Yêu cầu đầu tư xây dựng cơ bản của các ngành rất khác nhau, vì vậy, để việc phân bổ dự toán NSĐP chi ĐTPT phù hợp với các lĩnh vực, cần xây dựng tiêu chí phân bổ chi đầu tư cho các ngành khác nhau. Đối với ngành giáo dục, các tiêu chí lựa chọn phân bổ dự toán ngân sách chi đầu tư là dân số. Đồng thời cần áp dụng hệ số định mức phân bổ ưu tiên theo vùng và bổ sung có mục tiêu cho các địa phương có điều kiện KTXH khó khăn. Việc phân vùng nhất quán với các vùng ưu tiên phân bổ chi thường xuyên như đã trình bày ở trên.

Căn cứ vào mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất ngành giáo dục của địa phương đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, ngành GD&ĐT tổng hợp các đề xuất của các đơn vị về nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất của ngành ở từng cấp học, từng cấp ngân sách theo lộ trình cụ thể. Trên cơ sở đó, Sở GD&ĐT phối hợp với Sở KH&ĐT xây dựng các tiêu chí ưu tiên lựa chọn các dự án đầu tư.

Tuy nhiên trong thực tiễn, việc triển khai quy trình quy trình phê duyệt chủ trương đầu tư trong lĩnh vực giáo dục của tỉnh Thanh Hóa cho thấy, căn cứ sắp xếp thứ tự ưu tiên, lựa chọn danh mục dự án của ngành chưa được rõ ràng, minh bạch; nội dung báo cáo chủ trương đầu tư của các dự án còn sơ sài, chưa giải trình rõ ràng hiệu quả đầu tư; nhiều báo cáo chủ trương đầu tư nội dung chưa đảm bảo các nội dung theo quy định tại Luật Đầu tư công. Hầu như tất cả dự án lập báo cáo chủ trương đầu tư đều được phê duyệt chủ trương đầu tư vì thiếu căn cứ pháp lý và khoa  học để đánh giá và loại bỏ dự án thiếu hiệu quả.

Do đó, Sở KH&ĐT cần chủ trì xây dựng các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn ĐTPT nguồn NSNN tỉnh Thanh Hóa nói chung, phân bổ vốn ĐTPT cho GDCL nói riêng để tăng cường nguồn lực và tăng tính chủ động cho các địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục ở địa phương mình. Sở GD&ĐT cần phối hợp với Sở KH&ĐT trong việc xây dựng các tiêu chí sàng lọc các dự án đầu tư cho giáo dục để đảm bảo nguồn vốn đầu tư được phân bổ theo đúng ưu tiên của ngành, đảm bảo hiệu quả đầu tư ngay từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư và đưa vào danh mục đầu tư công trung hạn. Các tiêu chí để đánh giá, sắp xếp thứ tự ưu tiên, đề xuất danh mục dự án trong kế hoạch trung hạn và hàng năm bao gồm:

– Tiêu chí 1: Sự phù hợp

Theo tiêu chí này, các dự án đầu tư phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch và định hướng phát triển của ngành giáo dục của địa phương sẽ được ưu tiên lựa chọn. Đồng thời, các dự án này không được trùng lặp với các chương trình, dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc đã có quyết định đầu tư đang triển khai.

– Tiêu chí 2: Khả năng huy động các nguồn vốn khác

Theo tiêu chí này, các dự án đầu tư có khả năng huy động các nguồn vốn ngoài NSĐP sẽ được ưu tiên lựa chọn.

– Tiêu chí 3: Khả năng vận hành và bảo trì

Theo tiêu chí này, các dự án đầu tư có khả năng đảm bảo chi phí bảo trì và chi phí vận hành dự án sau khi hoàn thành sẽ được ưu tiên lựa chọn.

– Tiêu chí 4: Tính hiệu quả 

Theo tiêu chí này, các dự án tính toán được nhu cầu sử dụng sau khi hoàn thành; định lượng các kết quả đầu ra và giải trình đóng góp của dự án vào định hướng phát triển của cơ sở giáo dục/ngành và có tổng lợi ích cao (sau khi tính toán chi phí – lợi ích) sẽ được ưu tiên lựa chọn.

Mỗi tiêu chí nói trên sẽ được gán một mức điểm hoặc trọng số để tính được tổng điểm. Kết quả tính điểm là cơ sở tiến hành đánh giá, sắp xếp thứ tự ưu tiên và lựa chọn các dự án đầu tư đưa vào danh mục đầu tư công trung hạn.

Việc xây dựng các tiêu chí và áp dụng phương pháp tính điểm nói trên thể hiện quy trình khách quan trong việc xem xét, đánh giá, sắp xếp và đề xuất danh mục dự án đầu tư công trung hạn và hàng năm trong lĩnh vực giáo dục; phù hợp với chủ trương đổi mới phân bổ đầu tư công và định hướng QLNS theo kết quả. Vì vậy, Sở KH&ĐT và Sở GD&ĐT cần phối hợp chặt chẽ để nghiên cứu áp dụng phương pháp này càng sớm càng tốt, ít nhất phục vụ việc xây dựng kế hoạch đầu tư công của tỉnh giai đoạn 2020-2025.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận