Thành phần “sự thờ ơ”

Thành phần “thờ ơ” là sự biểu hiện đáng chú ý của người tiêu tiêu dùng. Họ ko quan tâm tới những sự kiện chính trị, kinh tế đang diễn ra hàng ngày, vì vậy họ cũng thờ ơ, vô cảm với những biến cố xảy ra với quốc gia. Họ sở hữu thể sẽ ko ủng hộ tẩy chay mà trái lại họ sẽ tìm hàng hóa TQ nếu như họ cảm thấy nó giải quyết được nhu cầu của họ. Ví dụ., lúc được hỏi xúc cảm của bạn như thế nào về hành động xâm phạm lãnh hải của TQ gây ra đối với Việt Nam, một số đáp viên đã trả lời:

[…] vì loại vấn đề này chắc sẽ do chính phủ lo, mình vẫn ăn học thường ngày” (thảo luận nhóm, nữ, 21 tuổi).

em thấy cũng thường ngày” (thảo luận nhóm, nam, 21 tuổi)

em ko sở hữu quan tâm lắm […] tại vì em ko quan tâm tới chính trị” (phỏng vấn sâu, nữ, 28 tuổi)

Sự thờ ơ (apathy) là “sự ko quan tâm, ko hứng thú đối với bất kỳ điều gì, hoặc ko sẵn sàng nỗ lực để thay đổi bất kỳ điều gì”18. Từ khái niệm này, những tác giả trước đã trở nên những khái niệm “sự thờ ơ đối với môi trường” (environmental apathy) là “sự thiếu quan tâm tới những vấn đề liên quan tới môi trường, và sở hữu một sự giám định chung là những vấn đề đó được phóng đại quá mức” (Gagnon Thompson và Barton 1994, trang 151). Trong ngành nghề tâm lý học chính trị, sự thờ ơ cũng được kể, ví dụ Sự thờ ơ đối với những sự kiện xã hội” (public affairs apathy) được khái niệm “là sự phản ánh một sự bọng đái hướng tới những vấn đề xã hội, một sự bất lực của bản thân một người nào đó với sự tham gia vào những vấn đề cơ bản nhất trong số những vấn đề xã hội” (Pinkleton và Austin 2004, trang 331).

Trong tâm lý xã hội học, hiện tượng này được giảng giải dưới tên gọi “hiệu ứng hững hờ”. Hiệu ứng hững hờ được những nhà tâm lý và xã hội học như Darley và Latané (1968); Latané và Darley (1969); Darley và cùng sự. (1973) thí nghiệm và giảng giải bởi thuyết “phân tán trách nhiệm” (diffusion of respronsibility principle). Luận điểm chính của thuyết này cho rằng lúc con người đứng trong một tập thể, họ sở hữu xu hướng nghĩ rằng trách nhiệm của họ đối với một biến cố sẽ được phân tán cho người khác vì vậy mà họ sẽ hững hờ với những gì họ nhìn, nghe thấy.

Mặc dù “sự thờ ơ” đã được những nhà tâm lý xã hội học quan tâm từ lâu nhưng lược khảo nghiên cứu cho thấy chưa sở hữu nhiều kết quả công bố mối quan hệ giữa “sự thờ ơ” và “hành vi tẩy chay” trên toàn cầu. Chỉ sở hữu một vài nghiên cứu thuộc ngành nghề advertising and marketing xanh (inexperienced advertising and marketing) cho rằng thái độ thờ ơ của khách hàng đối với môi trường sẽ là yếu tố tác động tiêu cực tới hành vi tiêu tiêu dùng những sản phẩm xanh (sản phẩm tiết kiệm điện, sử dụng thành phần bảo vệ môi trường). Lý do chính là người tiêu tiêu dùng ko quan tâm tới môi trường thì họ sẵn sàng ko tìm những sản phẩm này (Chan, 2000). Tuy nhiên, nghiên cứu của Chan chưa công bố kết quả minh chứng rõ ràng nhận định trên.

Chưa thấy những nghiên cứu liên quan trước đây giám định mối quan hệ giữa “sự thờ ơ” của người tiêu tiêu dùng và “hành vi tẩy chay” của họ. Vì vậy, mối quan hệ nghịch chiều giữa “sự thờ ơ” của người tiêu tiêu dùng đối với hành vi tẩy chay (gồm “kêu gọi tẩy chay” và “sự sẵn lòng tẩy chay”) được đề xuất cho nghiên cứu này.

Bởi vì sự thờ ơ chính là sự hững hờ và ko quan tâm của người tiêu tiêu dùng đối với một sự kiện nào đó nên những người tiêu tiêu dùng càng sở hữu mức độ “giám định mang tính ác cảm mối quan hệ” và “giám định mang tính ác cảm về kinh tế” càng cao thì sở hữu thể sự thờ ơ của họ càng giảm. Trong bối cảnh nghiên cứu này, những biến cố xảy ra đối với quốc gia được những phương tiện truyền thông đưa tin qua những kênh như ti vi, tin báo, mạng web. Nếu người tiêu tiêu dùng nhận thức những vấn đề đang xảy ra mang tính nghiêm trọng và tiêu cực thì sở hữu thể họ sẽ quan tâm tới tới sự kiện xã hội đang xảy ra của quốc gia. Điều này sở hữu tức thị giả thuyết sở hữu mối quan hệ nghịch chiều giữa “giám định mang tính ác cảm mối quan hệ” và “giám định mang tính ác cảm về kinh tế” đối với “sự thờ ơ” được đề xuất cho nghiên cứu này.

Rate this post

Bình luận