Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái

 

Sau 1971 với sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Bretton Woods, quan hệ tiền tệ giữa những nước được thả nổi, tiêu biểu là ở những nước tư bản. Với cơ chế này, tỷ giá hối đoái của những nước biến động hàng ngày, hàng giờ trên thị trường do tác động của nhiều nhân tố như lạm phát, tình hình cán cân trả tiền quốc tế, tình hình cung và cầu ngoại hối trên thị trường v.v

Chúng ta cần hiểu rằng tỷ giá hối đoái là một loại giá, vậy về thực chất nó g iống như bất kỳ một loại giá nào trong nền kinh tế, tức là sẽ vận động theo quy luật cung-cầu. Tuy nhiên cần nhấn mạnh ngay rằng xét về phạm vi tác động tỷ giá hối đoái bao giờ cũng được coi là loại giá quốc tế, do đó nó sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau trong ko gian này.

Dưới đây chúng ta sẽ xét tác động của 5 nhân tố quan yếu tới biến động của tỷ giá hối đoái.

1.  Liên quan giữa tỷ giá hối đoái với tỷ lệ lạm phát hay sức sắm

Nói cách khác ở đây muốn nói tới mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và sức sắm của mỗi đồng tiền trong mỗi cặp tiền tệ. Để thấy rõ mối liên quan này ta sử dụng lý thuyết sức sắm của Ricardo- Cassel. Lý thuyết này giả thuyết rằng tỷ giá hối đoái ở mức thăng bằng phải thể hiện sự ngang bằng trong sức sắm giữa hai đồng tiêng tương ứng và nó được gọi là lý thuyết 3P (Purchashing Energy Parity).

Lý thuyết này giả thuyết trong một nền kinh tế khó khăn lành mạnh, tức là trong đó cước phí vận chuyển, thuế thương chính giả thiết bằng 0. Do đó nếu những hàng hóa đồng nhất thì người tiêu tiêu dùng sẽ sắm hàng ở nước nào mang giá thật sự thấp. Theo giả thiết đó, một kiện hàng A ở Mỹ mang giá là 100USD và ở Pháp l à 80EUR , mang tức là theo ngang giá sức sắm đối nội của hai đồng tiền này là: USD /EUR = 0.8000. Nếu ở Mỹ mức lạm phát là 5%/năm và ở Pháp là 10%/năm thì giá kiện hàng A ở Mỹ sẽ tăng lên là 105USD, ở Pháp tăng lên là 88EUR . Do đó ngang giá sức sắm đối nội sẽ là 105USD = 88EUR , hay USD/EUR = (88/105) = 0.8381

Tương tự: -Tỷ giá trước lạm phát là USD/EUR = 0.8000

–  Tỷ giá sau lạm phát là USD/EUR = 0.8381

Mức chênh lệch tỷ giá là 4,76% trong lúc đó mức chênh lệch lạm phát là 5%, hai mức này mang thể coi là tương tự như nhau. Qua đó cho thấy tỷ giá biến động do lạm phát phụ thuộc mức chênh lệch của lạm phát của hai đồng tiền yết giá và định giá.

Từ ví dụ trên, ta mang thể đi tới công thức sau:

Giả sử đồng tiền tài 2 nước là A và B, trong đó đồng tiền A là yết giá và B là đồng tiền định giá.

Tỷ giá cuối kỳ A/B = tỷ giá đầu kỳ A/B x {(1+lạm phát B)/(1+lạm phát A)}

Nước nào mang mức độ lạm phát to hơn thì đồng tiền nước đó mang sức sắm thấp hơn, nước nào mang mức độ lạm phát cao h ơn mức độ lạm phát trung b ình của toàn cầu hoặc của khu vực th ì đồng tiền nước đó mất giá liên tục.

Ngoại hối mang giá cả vì nó cũng là một loại hàng hóa và là một loại hàng hóa đặc trưng. Giá cả của ngoại hối cũng chịu tác động của nhiều nhân tố như giá cả của những loại hàng hóa thông thường như mức độ lạm phát, và giảm phát, cung và cầu hàng hóa trên thị trường, sự lũng đoạn về giá cả v.v.

Nếu ngoại trừ tới những nhân tố khác mà chỉ tính riêng tác động của nhân tố lạm phát, ta mang thể dự đoán được sự biến động của tỷ giá trong tương lai.

Ví dụ: Tỷ giá USD/VND bình quân năm 2004 là 15,500. Mức độ lạm phát của Mỹ là 5% và của Việt Nam là 8% năm. Dự đoán tỷ giá USD/VND năm 2005 sẽ là:

USD/VND = 15,500 x (1.08/1.05) = 15,943

2.   Tỷ giá hối đoái và cán cân trả tiền quốc tế

Cán cân trả tiền quốc tế mang tác động rất quan yếu tới tỷ giá hối đoái. Tình trạng của cán cân trả tiền quốc tế sẽ tác động trực tiếp tới cung và cầu ngoại hối, do đó nó tác động trực tiếp và rất nhạy bén tới tỷ giá hối đoái. Về nguyên tắc, nếu cán cân trả tiền quốc tế dư thừa mang thể dẫn tới khả năng cung ngoại hối to hơn cầu ngoại hối, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái mang xu hướng giảm. Trái lại nếu cán cân trả tiền quốc tế thiếu hụt mang thể dẫn tới cầu ngoại hối to hơn cung ngoại hối, từ đó tỷ giá hối đoái mang xu hướng tăng. Trong cán cân trả tiền quốc tế, cán cân thương nghiệp mang tác động khôn cùng quan yếu tới sự biến động của tỷ giá hối đoái mà những nhà kinh tế đều xác nhận. Đây là nhân tố cơ bản xếp sau lưng tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên tuỳ vào điều kiện của mỗi nước và trong từng giai đoạn phát triển, những cán cân khác cũng mang vai trò rất lợi hại, ví dụ như cán cân giao dịch vốn. Cụ thể ở điều kiện của Việt Nam trong những năm sắp đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh tạo nên dòng chảy ngoại tệ vào trong nước rất to thể hiện trong tài khoản vốn trong cán cân trả tiền quốc tế, từ đó tác động lên cung ngoại hối và tỷ giá hối đoái.

3.   Tỷ giá hối đoái và mức chênh lệch lãi suất giữa những nước

Nói chung, nếu những điều kiện và môi trường kinh doanh của những nước là tương đương nhau, nước nào mang lãi suất ngắn hạn cao hơn thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do dó sẽ làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.

Chẳng hạn, lúc Việt Nam tăng lãi suất tiền gửi hơn những nước trong khu vực thì lượng ngoại tệ sẽ chạy vào Việt Nam để sắm những tín phiếu ngắn hạn, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ và đồng thời cũng làm giảm nhu cầu ngoại tệ xuống. Tỷ giá hối đoái do đó cũng giảm xuống. Tuy nhiên điều này mang thực sự xảy ra hay ko còn phụ thuộc vào điều kiện và môi trường kinh doanh của Việt Nam mang đảm bảo an to àn cho những nhà đầu tư hay ko, bởi vì những nhà đầu tư ko chỉ quan tâm tới lợi nhuận thu được từ đầu tư mà còn rất quan tâm tới yếu tố an toàn vốn đầu tư.

4.    Yếu tố tâm lý

Yếu tố tâm lý l à một yếu tố chủ yếu dựa v ào sự suy đoán từ những sự kiện, tình hình chính trị, kinh tế của những nước và toàn cầu mang liên quan. Chẳng hạn, mức thu nhập thực tế (mức độ tăng GNP thực tế) tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hóa và nhà cung cấp nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối để trả tiền hàng nhập khẩu cũng tăng lên. Tăng trưởng hay suy thoái kinh tế cũng mang tác động tới tỷ giá hối đoái. Lúc nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhu cầu về ngoại tệ tăng và lúc đó giá ngoại tệ mang xu hướng tăng. Trái lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khủng hoảng, nhu cầu về ngoại tệ giảm làm cho giá ngoại tệ mang xu hướng giảm.

Tỷ giá hối đoái là giá quốc tế, do đó những sự kiện kinh tế, chính trị tr ên toàn cầu cũng sẽ gây tác động rất nhạy bén tới tỷ giá hối đoái. Chẳng hạn như sự kiện ở Mỹ xảy ra v ào tháng 9/2001 hay chiến tranh Iraq tháng 3/2003 vừa qua đã làm khuynh đảo thị trường hối đoái toàn cầu, giá USD đã giảm đáng kể.

5.    Vai trò quản lý của nhà băng trung ương

Trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi mang quản lý, vai tr ò can thiệp của Nhà nước giữ vị trí quan yếu. Cần nhấn mạnh rằng Nhà nước can thiệp bằng phương tiện của thị trường thông qua Nhà băng Nhà nước Trung ương chứ ko phải bằng những phương tiện hành chính, tức là Nhà băng Trung ương tham gia vào thị trường với tư cách là người tham gia trên thị trường (người sắm hoặc người bán) trong từng thời khắc để tác động lên cung hoặc cầu ngoại hối, từ đó tác động lên tỷ giá hối đoái thích hợp với chính sách tiền tệ của Nhà nước.

6.  Những yếu tố chính trị và điều kiện kinh tế

Những điều kiện kinh tế thay đổi hoặc những sự kiện kinh tế, tài chính sẽ tác động tới những hoạt động kinh doanh và đầu tư của quốc gia, từ đó tác động tới những luồng tiền chạy ra và chạy vào quốc gia đó và kết quả là tác động tới tỷ giá hối đoái. Ví dụ như cuộc khủng tài chính năm 1997 ở Châu Á đã làm ruộng tiền tài một số nước Châu Á mất giá khá nhiều. Những chính sách thuế, mức độ tăng trưởng kinh tế, chính sách đầu t ư của tất cả quốc gia đều mang thể tác động tới sự dịch chuyển những luồng vốn đầu tư giữa những nước, từ đó tác động lên tỷ giá hối đoái.

4/5 - (1 bình chọn)

Bình luận