Kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2018

GDP của Việt Nam với xu hướng tăng ổn định, trung bình năm khoảng 5,99% giai đoạn 2006-2016 và năm 2017 là 6,8%, tới tháng 8/2018 là 6.7%, dự kiến tới hết tháng 12 tăng 6.98%.

Trong đó, tỷ trọng của ngành công nghiệp & xây dựng vẫn là ngành với xu hướng phát triển và đóng góp nhiều cho GDP nhất. Nông lâm nghiệp thủy sản tiếp tục phục hồi sau lúc chạm đáy vào năm 2016 nhưng vẫn chiếm tỷ trọng ít nhất trong GDP. Ngành nhà cung cấp tăng đều qua những năm từ 2014 – 2018. Sở hữu thể thấy nền kinh tế của Việt Nam đã với những bước dịch chuyển rõ ràng và tăng trưởng theo hướng phát triển sang công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng và nhà cung cấp (Xem Hình 3.1). Phía sau của sự dịch chuyển này chính là sự dịch chuyển về “vốn con người” với những thay đổi thích hợp với bối cảnh (Gary Becker, 1950), hoặc là những đòi hỏi về nguồn nhân lực với chất lượng và kỹ năng thích hợp với sự thay đổi về cơ cấu này.

Cùng với đà tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người đã tăng sắp gấp 3 lần từ 797 USD/người trong năm 2006 lên 2.385 USD/người vào năm 2017, đưa Việt Nam chính thức trở thành nước với thu nhập trung bình kể từ năm 2010 .

Việt Nam đang duy trì mô phỏng tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, gia công lắp ráp, tiến hành CNH – HĐH dựa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và xuất khẩu trong những ngành thâm dụng lao động với kỹ năng thấp. Tương tự, chúng ta đang gặp những thách thức to, cả trong ngắn hạn và dài hạn do lợi thế về lao động, đặc trưng là lao động mức giá thấp, lợi thế về tài nguyên sẽ giảm đáng kể và những ngành sản xuất thâm dụng lao động, thâm dụng tài nguyên sẽ mất lợi thế và dần bị thu hẹp. Mô phỏng tăng trưởng này đứng trước thách thức to trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 lúc rô-bốt, trí tuệ nhân tạo sẽ thay thế sức lao động của con người, hoạt động sản xuất- chế tạo trong tương lai sẽ quay trở lại những nước công nghiệp phát triển.

Rate this post

Bình luận