Khung pháp lý trong hoạt động của HSTC

Nền tảng cơ bản ko thể thiếu được trong mọi thị trường chứng khoán là hệ thống được quy định, quy tắc, luật lệ điều chỉnh những quan hệ giao dịch.  Ngay từ đầu, do đặt ra những vị trí, vai trò của phạm vi pháp lý đối với toàn bộ hoạt động của thị trường chứng khoán cho nên, trong những năm qua, để chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán. Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp lý điều chỉnh việc phát hành những chứng khoán như Luật đơn vị ban hành ngày 21/12/1990 quy định việc phát hành cổ phiếu trong những đơn vị cổ phần; Nghị định số 72-CP ngày 26/7/1994 về quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ; Nghị định số 120-CP ngày 17/9/1994 về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước; Nghị định số 23-CP ngày 23/3/1995 về việc phát hành trái phiếu quốc tế.
Kế bên những Nghị định nói trên, việc xuất hiện những bộ Luật Dân sự, Luật thương nghiệp, Luật doanh nghiệp đã góp phần tạo ra thêm những nền tảng pháp lý cần thiết để chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán. Về phía ngành chứng khoán, sắp đây, bằng những nỗ lực vượt bậc của SSC, công việc chuẩn bị những điều kiện pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán được xúc tiến mạnh mẽ. Việc ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán trên thị trường chứng khoán, một số thông tư và những văn bản hướng dẫn sở hữu liên quan. Tuy nhiên, thẩm định một cách khách quan, cho tới hiện tại, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường vẫn còn nhiều khuyết thiếu.
-Một là, vẫn còn nhiều khe hở trong khung pháp lý hiện hành. Mặc dù ngay từ tiêu đề và ngay trong điều 1, phạm vi điều chỉnh của Nghị định 48/1998/NĐ-CP là việc phát hành chứng khoán ra sức chúng trong thực tế, đối tượng điều chỉnh của Nghị định này cũng mới chỉ giới hạn ở những chứng khoán niêm yết (điều 3, khoản 1). Với những chứng khoán chưa niêm yết, do chưa sở hữu những quy định để điều chỉnh giao dịch của những loại chứng khoán này nên hiện nay, việc phát hành chứng khoán của những doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp hoạt động sở hữu hiệu quả và sở hữu ý định niêm yết chứng khoán, chưa đảm bảo tính công khai, công bằng nên đã tạo kẻ hở cho những hoạt động đầu tư, thao túng giá cả, “đục nước béo cò” trên thị trường.
Đối với những chứng khoán niêm yết, văn bản luật hiện hành vẫn cho phép đăng ký lại để niêm yết nên trước lúc cổ phiếu được bày bán chính thức trên thị trường chứng khoán, những doanh nghiệp đã cơ bản hoàn thành việc phân phối nội bộ rồi. Vì vậy, thực sự những giao dịch sắm bán diễn ra ở HSTC trong thời kì vừa qua hoàn toàn ko liên quan gì tới mục tiêu huy động vốn của những đơn vị và vì vậy, vô tình hay hữu ý, tình trạng hơn thua, được mất giữa những nhà đầu tư đã phản ánh một thực tế ko thể chối cải là HSTC đã và đang biến thành một sòng bạc kiểu mới như nhiều chuyên gia tài chính đã cảnh báo.
-Hai là, nhiều quy định trong Nghị định vẫn còn mơ hồ cả về phạm vi ngữ nghĩa lẫn phạm vi điều chỉnh cho nên sở hữu nhiều vướng mắc phát sinh lúc vận dụng trong thực tế. Một trong rất nhiều ví dụ tiêu biểu về sự mập mờ trong những quy định đã quy định về vốn khả dụng của đơn vị chứng khoán. Thực vậy, điều 35 của Nghị định quy định những đơn vị chứng khoán phải thường xuyên duy trì mức vốn khả dụng tối thiểu là 8% tổng “tài sản”. Quy định này là lập lờ vì trong những thuật ngữ tài chính, “nợ” và “vốn” là hai khái niệm cơ bản tính hoàn toàn khác nhau và ko thể trộn lẫn.       Tương tự, lúc quy định điều kiện về mức vốn tối thiểu mà tổ chức phát hành chứng khoán phải sở hữu (khoản 1, điều 6 của Nghị định 48/1998/NĐ-CP), nhường như sở hữu một sự lộn lạo giữa hai khái niệm vốn điều lệ (registered capital) và vốn thực góp (paid-in capital). Một ví dụ khác là quy định về nhận lệnh và sắm bán chứng khoán tại những đơn vị chứng khoán. Khoản 1, điều 9 thuộc Quyết định số 04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27/3/1999 về quy chế
thành viên, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán quy định những thành viên (những đơn vị chứng khoán) ko được sắm và bán chứng khoán bên ngoài HSTC. Sự mập mờ của quy định này thể hiện ở chỗ, một mặt, do thị trường chứng khoán hoạt động theo nguyên tắc trung gian cho nên mọi hành vi giao dịch của những nhà đầu tư đều thực hiện tại những đơn vị chứng khoán chứ ko phải tại HSTC. Mặt khác, nếu hiểu quy định này chỉ vận dụng đối với chứng khoán niêm yết thì chính điều khoản này đã thu hẹp phạm vi hoạt động của những thành viên. Cũng vậy, những đơn vị chứng khoán nên hiểu như thế nào về quy định những đơn vị chứng khoán chỉ được nhận lệnh của khách hàng tại trụ sở chính và chi nhánh đã đăng ký với HSTC (khoản 2, điều 9)? Theo quy định này, rẻ mỗi lần muốn giao dịch, nhà đầu tư phải trực tiếp tới đơn vị chứng khoán hay sở hữu thể đặt lệnh từ bất cứ nơi nào thông qua những thiết bị như fax, điện thoại, máy tính tư nhân được nối mạng hoặc qua mạng web. Những quy định lập lờ này là nguồn phát sinh sự tuỳ tiện rất to của những cơ quan quản lý trong việc giảng giải và vận dụng những quy định trong Nghị định.
-Ba là, nhiều quy định trong khung pháp lý hiện hành vẫn mang bóng vía của những quy định tại những thị trường chứng khoán đã phát triển như quy định về việc tách bạch ranh giới của ngành nhà băng và ngành chứng khoán, về trần lệ phí và hoả hồng của những nhà sản xuất chứng khoán. Kinh nghiệm phát triển của thị trường những nước cho thấy rằng, những quy định này là thích hợp với cơ cấu thị trường của tất cả các nước phát triển cách đây hơn ba thập kỷ nhưng ngày nay, với xu hướng khuyến khích khó khăn, chống độc quyền và nhất thể hoá những thị trường tài chính, những quy định này trở nên lạc hậu.
-Bốn là, do khung pháp lý vẫn còn tồn tại dưới hình thức Nghị định cho nên tính ổn định và hiệu lực pháp lý ko cao. Thực tế hoạt động cho thấy rất nhiều quy định trong Nghị định đã phủ định bởi hàng loạt những văn bản quy định tạm thời của HSTC (quy định về xác định giá mở cửa giao dịch trong phiên trước hết của một loại chứng khoán. Về biên độ giao động giá, về giới hạn giao dịch lô chẵn trong phương thức khớp lệnh….). Hiệu quả là đã gây tâm lý hoang mang, bất ổn trên thị trường và xâm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư.
-Năm là, nhiều tội danh liên quan tới giao dịch chứng khoán như sắm bán sở hữu tay trong (giao dịch nội gián), lũng đoạn thị trường, thông tin sai sự thực…. chưa được nhắc trong những Bộ luật sở hữu liên quan như Bộ luật hình sự (sửa đổi). Thị trường chứng khoán là một định chế nhậy cảm nên chỉ cần một tác động nhỏ cũng sở hữu thể tác động tới toàn bộ thị trường. Do đó, nếu như ko sở hữu những quy định tội danh cụ thể để răn đe, ngăn ngừa và làm cơ sở vật chất truy cứu trách nhiệm hình sự thì thị trường sẽ dễ bị tổn thương.

Rate this post

Bình luận