Quá trình phát triển dịch vụ hậu cần thủy sản

Được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Thủy sản là một trong những ngành tiên phong trong việc phát triển kinh tế biển, đảo, sở hữu khả năng khó khăn, phát triển ổn định, vững bền. Với mục tiêu phát triển ngành thủy sản để góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tăng kim ngạch xuất khẩu, khắc phục việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống dân cư ven biển; tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã khuyến khích ngư gia đầu tư đóng mới và nâng cấp tàu khai thác xa bờ, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đặc trưng chú trọng khâu nhà sản xuất hậu cần, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp và tư nhân đầu tư thiết bị hiện đại cho công việc bảo quản sản phẩm sau khai thác và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý chặt chẽ việc đóng mới tàu cá, ko phát triển tàu cá sở hữu chiều dài đường nước thiết kế dưới 15m, công suất dưới 90CV, giảm dần số tàu nhỏ đánh bắt sắp bờ.

Tới nay ngành thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu đã sở hữu những bước phát triển đáng kể và nhất là việc phát triển số lượng tàu, thuyền đánh cá thực hiện khai thác thủy sản, Năm 2010 toàn tỉnh sở hữu trên 6.700 tàu cá, với tổng công suất trên 750.000 CV trong đó, 40% là những tàu đánh bắt xa bờ với 2,536 chiếc, tăng 1.370 chiếc so với năm 2005. Tới năm 2014 số tàu cá giảm còn khoảng 6.270 chiếc, nhưng tổng công suất đạt khoảng 1.040.000 CV và số tàu đánh bắt xa bờ là trên 3.500 chiếc, tăng khoảng 1.000 chiếc so với năm 2010, sở hữu 47 tàu nhà sản xuất, phục vụ đánh bắt xa bờ [136]. Phần to những tàu được đầu tư trang bị những loại máy móc hiện đại như: máy tầm ngư, máy định vị, máy đo độ sâu…, nhờ đó sản lượng khai thác cũng ko ngừng tăng lên, năm 2003 đạt khoảng 165 nghìn tấn thủy, hải sản trong đó 135 nghìn tấn cá, 3000 nghìn tấn tôm, hơn 28,3 nghìn tấn hải sản khác, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 102,5 triệu USD; tới năm 2008 sản lượng khai thác đã đạt khoảng 265 nghìn tấn trong đó khai thác từ biển là 250 nghìn tấn với 206 nghìn tấn cá; năm 2012 là 285.366 tấn, xuất khẩu đạt hơn 10.600 tỷ đồng (khoảng 450 triệu USD) và năm 2013 ước đạt 299.430 tấn thủy hải sản những loại, kim ngạch xuất khẩu đạt 13.859 tỷ đồng (khoảng 650 triệu USD).

Cũng trong những năm qua hạ tầng nghề cá cũng được tỉnh quan tâm đầu tư từng bước hoàn thiện như: Quy hoạch những khu nuôi trồng thủy sản to, tập trung ở những thị xã Lengthy Điền, Đất Đỏ, Tân Thành, Côn Đảo và TP Vũng Tàu, tỉnh đã đầu tư xây dựng cảng cá Cát Lở hiện đại nhất khu vực Đông Nam Bộ, cùng với 08 cảng cá hiện sở hữu đã được đầu tư nâng cấp kiên cố và bán kiên cố với tổng chiều dài khoảng 1.463m, sở hữu khả năng đáp ứng những nhà sản xuất hậu cần thủy sản tại cảng đạt khoảng 360.000 tấn thủy sản/năm; những khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu cá cấp vùng và cấp tỉnh cũng từng bước được hình thành và đi vào hoạt động, bước đầu đã phát huy được hiệu quả như khu neo đậu Bình Châu (Xuyên Mộc); toàn tỉnh sở hữu 08 cơ sở vật chất nhà sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu thuyền với năng lực đóng mới khoảng 350 chiết/100.000 CV và sửa chữa khoảng 3.500 chiết /năm, sở hữu khả năng đáp ứng một phần nhu cầu đóng mới và sửa chữa cho ngư gia .

Tỉnh cũng đã ban hành những chính sách khuyến khích những tổ chức và tư nhân đầu tư nuôi trồng thủy sản trên biển đảo, tiếp tục dịch chuyển cơ cấu vật nuôi và rộng rãi hóa loại hình nuôi, đối tượng nuôi trên cả ba vùng biển, lợ, ngọt, nhất là tập trung vào nuôi trên biển những loài hải sản sở hữu trị giá kinh tế cao tại thị xã Côn Đảo, theo hướng sản xuất hàng hóa, thích hợp với điều kiện tự nhiên và đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước; đi đôi với việc chuyển giao khoa học và kỹ thuật, để người dân hình thành nên những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung an toàn, ổn định, vững bền trên cơ sở vật chất đảm bảo môi trường, cảnh quan rộng rãi và độc đáo trên vùng biển, đảo tươi đẹp, góp phần vào sự liên kết du lịch thăm quan biển, đảo với du lịch văn hóa tâm linh với tìm sắm và thưởng thức đặc sản biển tại Côn Đảo.

Rate this post

Bình luận