Quan điểm truyền thống và lý thuyết Modigliani và Miller về cấu trúc vốn tối ưu

Nghiên cứu của Durand (1952), là dự án trước nhất về CTV của doanh nghiệp. Nghiên cứu này cho rằng trị giá doanh nghiệp bị tác động bởi CTV của chính doanh nghiệp đó. Quan niệm truyền thống khẳng định, giá tiền sử dụng nợ thấp hơn giá tiền sử dụng VCSH nhờ khoản tiết kiệm từ thuế. Vì vậy, giá tiền sử dụng vốn bình quân (WACC) giảm lúc doanh nghiệp tăng sử dụng nợ. Ngoài ra, theo ý kiến này, tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu, tại đó làm tối đa hóa trị giá doanh nghiệp bằng cách kết hợp giữa nợ và VCSH ở một tỷ lệ nhất định giúp tối thiểu hóa WACC, do đó, tối đa hóa trị giá doanh nghiệp (Brealey và ctg, 2008). Tuy nhiên, ý kiến này cũng khuyến cáo, lúc tăng mức độ sử dụng nợ thì sức ép trả nợ cao, rủi ro tài chính to, tăng nguy cơ vỡ nợ. Vì vậy, những chủ sở hữu nâng suất sinh lời kỳ vọng nhằm bù đắp rủi ro tài chính gây ra, theo đó, WACC cũng tăng.
Quan niệm truyền thống đã nhận được sự ủng hộ của Solomon và Weston. Tuy nhiên, những lập luận theo ý kiến này tương đối thuần tuý, chưa thuyết phục so với những lý thuyết CTV khác và thậm chí bị bác bỏ bỏ, bởi vì ko đủ hạ tầng vững chắc.
Vì vậy, Lý thuyết MM ra đời trên hạ tầng cung ứng chứng cớ cũng như bổ sung thêm những khuyết thiếu mà ý kiến này còn thiết sót (Bringham và Houston, 2009).

Lý thuyết hiện đại về CTV của Franco Modigliani và Merton Miller ra đời năm 1958 và sau đó, tiếp tục được phát triển vào năm 1963. Đây được xem là một trong những lý thuyết nền tảng của CTV. Lý thuyết MM được xây dựng dựa trên hạ tầng tồn tại hoạt động kinh doanh chênh lệch giá và một số giả thuyết ko tồn tại như TTTC lý tưởng, những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường như nhau, doanh nghiệp chia 100% lợi nhuận cho những chủ sở hữu và ko sở hữu giá tiền kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ.

Trên hạ tầng những tiền đề này, Lý thuyết MM nghiên cứu tác động của CTV tới trị giá doanh nghiệp trong hai trường hợp: môi trường kinh doanh ko sở hữu thuế và môi trường kinh doanh sở hữu thuế. Đối với trường hợp môi trường kinh doanh ko sở hữu thuế (Modigliani và Miller, 1958), lý thuyết này đưa ra kết luận, trị giá của doanh nghiệp hay giá tiền sử dụng vốn bình quân độc lập với CTV. Trị giá doanh nghiệp hay WACC của doanh nghiệp sở hữu vay nợ bằng trị giá doanh nghiệp hay WACC của doanh nghiệp ko sở hữu vay nợ. Do đó, tỷ số nợ ko tác động tới trị giá doanh nghiệp cũng như WACC. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp ko sở hữu CTV tối ưu cũng như doanh nghiệp ko thể tăng trị giá bằng cách thay đổi CTV.

Lý thuyết MM (1963) ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của Lý thuyết MM (1958) và bổ sung vai trò lợi ích của thuế đối với nợ. Trong môi trường kinh doanh sở hữu thuế, trị giá doanh nghiệp tăng lúc doanh nghiệp sử dụng nợ nhờ khoản tiết kiệm từ lãi vay. Trị giá của doanh nghiệp sử dụng nợ to hơn trị giá doanh nghiệp ko sở hữu nợ đúng bằng trị giá hiện tại của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Lúc mức độ sử dụng nợ tăng lên nhờ khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay mà giá tiền sử dụng nợ thực tế của doanh nghiệp giảm. Do vậy, WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ thấp hơn WACC của doanh nghiệp ko sử dụng nợ.
Mặc dù Lý thuyết MM đưa ra nhiều góc nhìn khác nhau về tác động của CTV tới trị giá doanh nghiệp và WACC, nhưng lý thuyết này được xây dựng dựa trên những tiền đề ko thực tế. Đây là hạ tầng cho sự ra đời của những lý thuyết hiện đại sau này.

Rate this post

Bình luận