Sự phát mới công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực

Sự phát mới khoa học

Đổi mới với thể từ tri thức khoa học và phi khoa học. Đổi mới phi khoa học với liên quan tới cách, kỹ năng và điều kiện làm việc trong những tổ chức. Trụ cột cuối cùng của khả năng khó khăn tập trung vào đổi mới khoa học. Trong dài hạn, những tiêu chuẩn để tồn tại của doanh nghiệp với th được tăng cường chủ yếu bởi sự đổi mới khoa học.

Đổi mới khoa học là trung tâm của sự phát tri ển vững bền. Kỹ thuật là tập hợp tri thức bao gồm đầy đủ những thiết bị, phương pháp, trật tự và thực tiễn với thể được sử dụng, để thực hiện những mục đích nhất định của con người, trong lúc đổi mới là trật tự mà khoa học được hình thành, đã phát triển, mã hóa và triển khai tổ chức. Sự phát triển thông minh với thể tạo điều kiện doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và tiếp tới là tăng trưởng xuất khẩu. Một số nghiên cứu cho rằng với một mối quan hệ tích cực giữa đổi mới khoa học và quốc tế hóa (López và García, 2005, Filipescu và cùng sự, 2009). Theo đó, những doanh nghiệp với xu hướng quốc tế nhờ lợi thế khó khăn khoa học của họ và đồng thời việc tham gia vào thị trường quốc tế cũng mang lại cho họ khả năng đổi mới khoa học nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng với những ý kiến trái chiều về vấn đề này (Vila và Kuster, 2007).

Đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng, những nghiên cứu thực nghiệm đã ủng hộ quan niệm cho rằng sự đổi mới đem lại sự tăng cường hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, cùng với khoa học với tác động tích cực và đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp (Bayramoglu và cùng sự (2017). Sự đồng thuận quan niệm trên cho thấy rằng đổi mới là một động lực quan yếu của xuất khẩu.

Thị trường quốc tế là nơi những doanh nghiệp với thể khai thác sự đổi mới và từ đó tăng hiệu quả kinh tế của họ. Những doanh nghiệp với sự cải tiến, đổi mới sẽ với xu hướng gia nhập thị trường nước ngoài nhiều hơn do khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên từ việc nâng cấp sản phẩm và do giá thành sản xuất thấp hơn nên giá thành sản phẩm sẽ giảm, đồng thời sự gia nhập nhiều hơn này để dàn trải giá thành khăng khăng của sự đổi mới trên một số lượng to những thị trường (Zahra, Eire và Hitt, 2000, Bustos, 2011). Đầu tư vào tài nguyên khoa học là tiền đề quan yếu cho doanh nghiệp để phát triển lợi thế khó khăn quốc tế dựa trên giá thành/sự khác biệt. Tương tự, những doanh nghiệp thực hiện đổi mới sẽ xúc tiến mạnh mẽ việc mở rộng hoạt động của họ ra những thị trường khác ngoài thị trường nội địa và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn từ việc đầu tư khoa học của họ (Bianchi, 2009).

Những nước kém phát triển vẫn với thể cải thiện năng suất của mình bằng cách ứng dụng những khoa học hiện với hoặc thực hiện những cải tiến gia tăng. Đối với những nơi đã đạt tới giai đoạn phát triển của sự đổi mới thì sẽ ko thể tăng năng suất được nữa. Những doanh nghiệp ở những nước này phải thiết kế và phát triển những sản phẩm và trật tự tiên tiến để duy trì lợi thế khó khăn và chuyển sang những hoạt động GTGT cao hơn. Sự tiến triển này đòi hỏi một môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới và được tương trợ bởi cả khu vực công và tư nhân. Tức thị phải đầu tư đầy đủ vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D), đặc trưng là khu vực tư nhân; sự hiện diện của những viện nghiên cứu khoa học chất lượng cao với thể tạo ra những tri thức cơ bản cần thiết để xây dựng những khoa học mới; hợp tác rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển khoa học giữa những trường đại học và ngành công nghiệp; và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Đổi mới khoa học (với thể theo một trong hai hình thức là đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới quá trình) tạo ra lợi thế khó khăn giúp doanh nghiệp với khả năng khó khăn cao hơn ở thị trường trong nước và mở ra nhiều thời cơ ở thị trường nước ngoài (Eriksson và cùng sự, 1997).

Tương tự, về mặt lý thuyết đổi mới khoa học với tác động tích cực tới xuất khẩu.

Chất lượng nguồn nhân lực

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa chất lượng nguồn nhân lực và xuất khẩu. Cụ thể là, hoạt động xuất khẩu sẽ được thực hiện một cách thuận lợi hơn nếu thị trường lao động tạo thuận lợi cho quá trình chuyên môn hóa và biên độ việc làm với thể được điều chỉnh thường xuyên dựa trên tính linh hoạt của thị trường (Grossman, 2004; Ohnsorge và Trefler, 2007). Những nghiên cứu khác cũng đã chứng minh rằng những nước với chất lượng nguồn nhân lực tốt hoặc lao động với tay nghề cao thường xuất khẩu nhiều hơn (Costinot (2009).

Nguồn nhân lực được cho là với tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu do hai lý do sau đây. Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trình độ khoa học của đơn vị. Thứ hai, lực lượng viên chức với trình độ cao thể hiện khả năng xây dựng và duy trì mối liên hệ với những đơn vị nước ngoài một cách với hiệu quả. Do mức độ tương tác cao giữa người sử dụng và nhà cung ứng nên viên chức phải với năng lực ngoại ngữ tốt và với kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa (Winsted và Patterson, 1998). Nhìn chung, mối quan hệ tích cực giữa tài chính con người và xuất khẩu đã được khẳng định trong những tài liệu nghiên cứu thực nghiệm (Contractor và cùng sự, 2008, Roper và cùng sự, 2006 ).

Tương tự, trên phương diện lý thuyết, tất cả các nước với nguồn nhân lực chất lượng cao với tác động tích cực tới xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia. Trong đề tài này, chất lượng nguồn nhân lực được giả thiết với tác động tích cực đối với xuất khẩu.

Rate this post

Bình luận