Các chính sách khác có tác động tới đầu tư chứng khoán

Ngoài những chính về kìm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế, quản lý lãi suất, tỷ giá, cung tiền, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài sở hữu tác động tới hoạt động đầu tư của nhà đầu tư, tới sự biến động thị trường chứng khoán thì còn sở hữu những chính sách liên quan tới thị trường vàng, thị trường bất động sản và trị giá sản lượng công nghiệp, sở hữu tác động tới thị trường chứng khoán, tới chính sách xúc tiến đầu tư chứng khoán.

Chính sách về thị trường vàng

Ở nước ta, TTCK và thị trường bất động sản đang là kênh nhà nước đã vận dụng giải pháp quản lý, trong lúc thị trường vàng đang thiếu những chế tài quản lý và luồng tiền đầu tư đổ vào thị trường vàng là điều thế tất. Việc vàng tăng giá mạnh sở hữu thể tác động tới TTCK và làm cho tiền gửi trong dân cư giảm và tương tự sẽ tác động giảm cung quỹ cho vay đối với nền kinh tế. Huỳnh Thanh Bình và Nguyễn Minh Hà (2012) chỉ ra rằng giá vàng toàn cầu sở hữu tác động tích cực cùng chiều tới chỉ số giá VN-Index [4]. Nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chỉ ra rằng giá vàng sở hữu quan hệ tác động cùng chiều tới giá chứng khoán, lúc giá vàng trong nước tăng 1% thì chỉ số giá chứng khoán tăng lên khoảng 1,54% và chỉ ra rằng giá vàng sở hữu tác động tới thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu của những tổ chức phải khó khăn với sự thu hút vốn đầu tư với vàng trên thị trường. Lúc giá vàng sở hữu xu hướng tăng thì những nhà đầu tư sẽ đổ dồn vào đầu tư thị trường vàng do đó lượng vốn đầu tư dịch chuyển sang thị trường vàng và trái lại.

Để kiểm soát giá vàng, ổn định nền kinh tế, Chính phủ phải sở hữu những chính sách về quản lý hoạt động thị trường vàng. Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh, sản xuất vàng miếng, bình ổn thị trường vàng. Với việc chủ động linh hoạt trong quản lý quản lý thị trường vàng trong giai đoạn hiện nay nên thị trường vàng trở nên ổn định hơn, cung tiền được kiểm soát, ổn định kinh tế vĩ mô nhất là giai đoạn 2015-2016. Sự ổn định của thị trường vàng sẽ góp phần ổn định nền kinh tế, ổn định thị trường chứng khoán.

Trị giá sản lượng công nghiệp

Những nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng tiêu chí này sở hữu tác động tới thị trường chứng khoán tới quyết định đầu tư chứng khoán của những nhà đầu tư. Lúc trị giá sản lượng tăng thì sở hữu tức thị những doanh nghiệp làm ăn sở hữu lãi lợi nhuận tăng, giá cổ phiếu tăng và do đó sẽ tác động tới những nhà đầu tư tậu cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Thực tế cho thấy trị giá sản lượng ngành công nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2010- 2017 sở hữu sự tăng trưởng tuy nhiên tốc độ ko cao.

Biểu đồ 2.32, chỉ số Vn-Index và trị giá công nghiệp sở hữu sự tương quan. Trị giá công nghiệp tăng thì chỉ số Vn-Index tăng và trái lại. Tuy nhiên tốc độ tăng, giảm giữa trị giá công nghiệp và VN-Index sở hữu sự khác nhau nhất là năm 2016 trị giá sản lượng công nghiệp giảm mạnh hơn so với chỉ số Vn-Index. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015) cũng chỉ ra rằng trị giá sản lượng công nghiệp sở hữu tác động tích cực cùng chiều tới chỉ số VNMidcap-Index và trị giá sản lượng công nghiệp tăng 1% thì VNMidcap-Index tăng 0.002 điểm [21].

Tương tự, trị giá sản lượng sở hữu tác động tích cực tới giá cổ phiếu. Lúc trị giá sản lượng tăng thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn sở hữu hiệu quả lợi nhuận tăng, cổ tức tăng, kinh tế tăng trưởng và do đó thu hút những nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán từ đó sẽ thu hút lượng vốn to cho nền kinh tế.

Chính sách thu hút và bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán

Ngay từ lúc mới thành lập TTCK, chính phủ đã sở hữu chính sách quyến rũ để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, nhưng sở hữu sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ. Cụ thể:

– Quyết định số 139/1999/QĐ-TTg ngày 10/6/1999 của Thủ tướng Chính phủ quy định tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam;

– Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ cho phép nâng mức nắm giữ cổ phiếu của bên nước ngoài trong những tổ chức cổ phần niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung lên 30% vốn cổ phần của tổ chức; đồng thời cho phép nâng tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài lên tối đa 49% vốn điều lệ trong những CTCK liên doanh, tổ chức quản lý quỹ liên doanh nhằm tạo sức hút cho những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào TTCK Việt Nam.

– Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK) với nhiệm vụ thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ, trả tiền chứng khoán và cung ứng những nhà cung cấp tương trợ việc giao dịch tậu, bán chứng khoán.

– Nhằm kiểm soát hoạt động đầu tư và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg quy định tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam, trong đó, những tổ chức, tư nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 49% cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của tổ chức niêm yết/đăng ký giao dịch trên TTCK Việt Nam (ngoại trừ tổ chức niêm yết/đăng ký giao dịch thuộc khối nhà băng, tỷ lệ nắm giữ tối đa của nhà đầu tư nước ngoài là 30%) và tối đa 30% cổ phiếu của tổ chức/tổ chức chưa niêm yết; tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, tậu cổ phần, góp vốn liên doanh thành lập CTCK hoặc tổ chức quản lý quỹ liên doanh tối đa là 49% vốn điều lệ.

Ngoài ra, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC quy định miễn thuế TNCN sở hữu thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn; cho phép nhà đầu tư sở hữu thể mở nhiều tài khoản tại tổ chức chứng khoán; thực hiện những giao dịch ngược chiều (tậu, bán) cùng một loại chứng khoán trong ngày giao dịch; cho phép giao dịch vay tậu ký quỹ; hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán nhằm thu hút dòng vốn chuyển ra nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tư chứng khoán tham gia hoạt động tậu bán, ko phải tới những sàn giao dịch, tiết kiệm thời kì, giá tiền.

Để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, Luật Chứng khoán năm 2006 đã nêu nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là  (1) Tôn trọng quyền tự do tậu, bán, kinh doanh và nhà cung cấp chứng khoán của tổ chức, tư nhân (2) Công bằng, công khai, sáng tỏ (3). Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Trong Luật chứng khoán cũng nêu rõ những hành vi vi phạm tác động tới giá chứng khoán, tới quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Thực trạng cho thấy số lượng, trị giá giao dịch những nhà đầu tư chứng khoán ngày càng gia tăng trong 10 năm sắp đây, chính sách thu hút đầu tư được đẩy mạnh và nền kinh tế sự tăng trưởng, lạm phát kìm chế nên tổng vốn đăng ký mới và góp vốn tậu cổ phần của đầu tư nước ngoài, khối lượng mua bán, trị giá giao dịch, trị giá ròng rã đầu tư nước ngoài năm 2017 tăng kỷ lục so với năm 2016. Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất nhỏ trong lúc thực tế số lượng tài khoản hoạt động chỉ đạt khoảng 30-40%.  Do vậy, cần thiết chính sách khai thác số lượng nhà đầu tư tiềm năng to của Việt Nam và thu hút nhà đầu tư nước ngoài đầu tư chứng khoán ở Việt Nam.

Chính sách đối với tổ chức phát hành và hàng hóa thị trường chứng khoán

Để đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các đối tác tham gia trên thị trường chứng khoán và nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển đòi hỏi phải phát triển TTCK trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan yếu cho nền kinh tế, Luật Chứng khoán ngày 29/6/2006, Luật chứng khoán số 62/2010/QH12 năm 2010, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 70/2006/QH11, quy định rõ những điều kiện tổ chức cổ phần phải đáp ứng để thực hiện chào bán chứng khoán ra sức chúng, gồm:

– Doanh nghiệp sở hữu mức vốn điều lệ đã góp tại thời khắc đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo trị giá ghi trên sổ kế toán;

– Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải sở hữu lãi, đồng thời ko sở hữu lỗ luỹ kế tính tới năm đăng ký chào bán;

– Với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Việc thực thi chính sách trên đã góp phần gia tăng số lượng tổ chức niêm yết chứng khoán, gia tăng số lượng hàng hóa, trị giá giao dịch và thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn cho nền kinh tế.

Về chính sách chi trả cổ tức

Những nghiên cứu đều cho thấy, chính sách cổ tức là một trong những nhân tố to tác động tới giá doanh nghiệp cả trong ngắn hạn và dài hạn, mặc dù cách thức tác động đối với mỗi doanh nghiệp và trong mỗi thời kỳ là khác nhau. Lúc tỷ suất cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu sở hữu tác động cùng chiều tới giá cổ phiếu và chỉ số chứng khoán và giá cổ phiếu và cổ tức tại những doanh nghiệp sở hữu quy mô to sở hữu biến động ít hơn những doanh nghiệp sở hữu quy mô vừa và nhỏ.

Thực tế theo số liệu thống kê về tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân trên thị trường chứng khoán và chỉ số giá VN-Index sở hữu mối quan hệ tương quan với nhau. Giai đoạn năm 2007-2013, tỷ lệ chi trả cổ tức sở hữu xu hướng giảm từ 60,1 vào năm 2007 và giảm còn 46,7 năm 2013 và cũng ở giai đoạn này giá chứng khoán sở hữu xu hướng giảm chỉ số VN-Index từ 1170,67 năm 2007 và 488,07 năm 2012 và năm 2013 là 531,71. Năm 2014 tỷ lệ chi trả cổ tức tăng lên là 48,9% nhưng năm 2015 giảm còn 45,2% và thực tế chỉ số VN-index năm 2014 và 2015 cũng sở hữu xu hướng biến động với chỉ số tương ứng là 640,75 và 606,58. Tỷ lệ chi trả cổ tức năm 2016, 2017 sở hữu xu hướng giảm, nhưng đảm bảo tính ổn định và phủ hợp hơn với lợi nhuận bình quân của những doanh nghiệp.

Nghị định số 86/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán mà tổ chức, tư nhân phải đáp ứng lúc thực hiện đầu tư, kinh doanh trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Đồng thời, những cơ quan quản lý trong ngành nghề đầu tư chứng khoán như Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã ban hành nhiều hướng dẫn, quy định chi tiết để triển khai những văn bản chính sách của Chính phủ.

– Thông tư số 197/2015/TT-BTC ngày 3/12/2015 của Bộ Tài chính ban hành quy định về hành nghề chứng khoán; Thông tư số 147/2012/TT-BTC ngày 10/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hành nghề chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Thông tư số 87/2017/TT-BTC quy định tiêu chí an toàn tài chính và giải pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không liên quan tiêu chí an toàn tài chính nhằm quy định những tiêu chí an toàn tài chính, tăng cường năng lực quản trị quản lý của những tổ chức chứng khoán và tái cơ cấu hàng hóa, nhà đầu tư. Những quy đinh này đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động sở hữu hiệu quả với hàng ngũ trung gian chứng khoán sở hữu nghiệp vụ chuyên môn cao và nhiều năm kinh nghiệm.

– Ủy ban chứng khoán nhà nước đã chủ động, tích cực xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, về điều kiện đầu tư kinh doanh trong ngành nghề chứng khoán: Thông tư hướng dẫn Nghị định 135/2015/NĐ-CP về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của những tổ chức kinh doanh chứng khoán; Thông tư hướng dẫn phát hành và giao dịch sản phẩm Coated Warrant niêm yết trên SGDCK; Quyết định số 106/QĐ-UBCK ngày 8/2/2010 của Ủy ban chứng khoán nhà nước hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho Đơn vị chứng khoán nhằm thiết lập và vận hành hệ thống quản trị, hạn chế rủi ro.Thực hiện đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán, số tổ chức chứng khoán đã giảm từ 105 tổ chức năm 2012 xuống còn 77 tổ chức năm 2017.

Tỷ lệ vốn khả dụng bình quân hệ thống CTCK đạt 399,5% cao hơn mức chuẩn an toàn quy định là 180%; lợi nhuận của những tổ chức chứng khoán năm 2017 đã tăng 70% so với năm 2016.

Những quy định về giám sát và xử lý vi phạm trong đầu tư chứng khoán

Để thị trường chứng khoán hoạt động tuân thủ những quy định của pháp luật, những cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành những văn bản xử lý những vi phạm.

– Thông tư 97/2007/TT-BTC ngày 08/08/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong ngành nghề chứng khoán và thị trường chứng khoán; Thông tư số 36/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 217/2013/TT-BTC; Thông tư số 97/007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong ngành nghề chứng khoán và thị trường chứng khoán. Việc ban hành quy định việc xử phạt hành chính với hoạt động kinh doanh chứng khoán đảm bảo cho những tư nhân tổ chức tham gia thị trường chứng khoán tuân thủ những quy định trong hoạt động kinh doanh, tạo lập thị trường hiệu quả hơn và tránh rủi ro.

Theo đó, những tổ chức kinh doanh chứng khoán sở hữu tỷ lệ vốn khả dụng dao động từ 120% tới 150% liên tục trong tất cả những kỳ báo cáo trong 3 tháng liên tục thì sẽ bị kiểm soát và sở hữu giải pháp khắc phục theo hướng dẫn, tổ chức kinh doanh chứng khoán cỏ tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%, ko khắc phục được tình trạng kiểm soát trong thời kì quy định thì bị kiểm soát đặc trưng.

Tuy nhiên, mặc dù nhà nước đã sở hữu những quy định xử lý những trường hợp vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng số những trường hợp vi phạm vẫn tăng.

Rate this post

Bình luận