Nhóm các yếu tố đóng vai trò điều tiết

Biến điều tiết (moderator) là biến làm thay đổi mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc (Bhattacherjee, 2012). Hoặc làm thay đổi mối quan hệ giữa những cặp biến (vd., độc lập và trung gian, trung gian và phụ thuộc), một mô phỏng nghiên cứu đề xuất sở hữu thể chứa nhiều biến điều tiết và một biến điều tiết sở hữu thể làm thay đổi một hay nhiều tác động của những cặp biến (Nguyễn Đình Thọ, 2013).

Đối với nhóm những biến điều tiết trong mô phỏng mối quan hệ giữa “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” và “sẵn lòng tẩy chay” hàng hóa từ một quốc gia nào đó, những tác giả trước đã sử dụng những biến điều tiết khác nhau trong mô phỏng họ đề xuất.

Darrat (2011) đề xuất mô phỏng với sự điều tiết của những biến như “sự ác cảm”, “chủ nghĩa tư nhân” (individualism) và “sự lảng tránh những điều ko cứng cáp” (uncertainty avoidance) đối với mối quan hệ giữa “nhận dạng thương hiệu”, “trị giá thương hiệu” và “dự kiến sắm hàng”. Đề xuất của Darrat chỉ ở dạng mô phỏng đề xuất và cho tới hiện nay chưa thấy dự án nghiên cứu nào kiểm định mô phỏng đề xuất này.

Huang và cùng sự. (2010a) thẩm định vai trò điều tiết của nhóm tuổi (sinh viên năm 4/ năm 3) và cảm nhận mối đe dọa về kinh tế (cao/thấp) của người tiêu tiêu dùng đối với những mối quan hệ giữa biến độc lập và phụ thuộc. Kết quả được chấp nhận đối với sản phẩm xuất xứ từ Đài Mortgage nhưng hầu hết những giả thuyết bị chưng bỏ đối lúc kiểm định đối với hàng Nhật.

Jiménez và San Martín (2010) kiểm định mô phỏng đối với nhóm sở hữu tri thức về sản phẩm (xe tương đối) cao và nhóm sở hữu tri thức về xe tương đối thấp. Kết quả cho thấy sở hữu sự tranh chấp về những kết quả lúc xem xét vai trò điều tiết của tri thức về sản phẩm của khách hàng.

Ma và cùng sự. (2012) phân nhóm tất cả quốc gia tương đồng về văn hóa và nhóm còn lại (ko tương đồng về văn hóa) để kiểm định sự khác biệt của những mối quan hệ trong mô phỏng. Kết quả cho thấy phần nhiều những giả thuyết đặt ra đều được chấp nhận ngoại trừ một vài giả thuyết bị chưng bỏ.

Tương tự như nhóm Ma nhưng Rose và cùng sự. (2009) tách người tiêu tiêu dùng thành hai nhóm; nhóm người tiêu tiêu dùng gốc Do Thái và nhóm người tiêu tiêu dùng gốc Arap để xem xét sự khác biệt giữa những mối quan hệ, kết quả cho thấy sự thiếu nhất quán lúc kiểm định đối với những phân nhóm khác nhau.

Nakos và Hajidimitriou (2007) xem xét vai trò điều tiết của nam nữ; trình độ giáo dục; tuổi; khả năng nói tiếng nước ngoài; khu vực sinh sống đối với mối quan hệ giữa “sự ác cảm” và “sẵn lòng tẩy chay” hàng hóa của quốc gia bị ác cảm (Thổ Nhĩ Kỳ) và hàng hóa do nội địa sản xuất (Hy lạp). Kết quả cho thấy tất cả những giả thuyết đều được chấp nhận ngoại trừ hai giả thuyết liên quan tới trình độ giáo dục và khả năng nói tiếng nước ngoài.

Wang và cùng sự. (2013) xem xét vai trò điều tiết của “chủ nghĩa vật chất” và “chuẩn xã hội” đối với mối quan hệ giữa “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” và “sẵn lòng tẩy chay” hàng hóa xuất xứ Nhật của người tiêu tiêu dùng TQ. Kết quả kiểm định cho thấy những giả thuyết đề xuất ko được chấp nhận.

Từ kết quả tổng kết trên, một số nhận xét được rút ra:

Thứ nhất, những nhóm biến đóng vai trò điều tiết là những nhóm biến đóng vai trò quan yếu được những tác giả lập luận đưa vào mô phỏng với mục đích cuối cùng là mở rộng mô phỏng gốc, gia tăng tính mới của nghiên cứu. Luận án này xây dựng và mở rộng mô phỏng gốc dựa trên những lập luận của Harmeling và cùng sự. (2015). Vì vậy, những biến đóng vai trò điều tiết trong mô phỏng gốc nguyên thủy của Klein và cùng sự. (1998) sở hữu thể cân nhắc thẩm định.

Thứ hai, đề xuất mô phỏng của Darrat (2011) với vai trò điều tiết của “chủ nghĩa tư nhân” và “lảng tránh những điều ko cứng cáp” chưa được những nghiên cứu khác kiểm định. Đây là thời cơ để nghiên cứu tiếp theo xem xét, thẩm định lại đề xuất này.

Tổng kết những nghiên cứu liên quan, bức tranh toàn cảnh về những yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp, điều tiết, được thể hiện qua hình 2.2.

Chú thích hình 2.2:

(*) nhóm Harmeling gọi xúc cảm tức giận thuộc nhóm xúc cảm mang tính đấu tranh.

Xúc cảm lo lắng/lo sợ thuộc nhóm những xúc cảm né tránh.

(**) Lảng tránh sản phẩm là tên gọi nhóm Harmeling sử dụng, tuy nhiên nội dung đo lường chính trùng khớp với “sự sẵn lòng tẩy chay” (nhóm Harmeling điều chỉnh thuật ngữ theo xu thế thể hiện sự né tránh).

Rate this post

Bình luận