Gợi ý việc chọn cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh tế [2]

Thứ hai, việc lựa chọn CTV theo hướng gia tăng nợ dài hạn, đảm bảo sự an toàn và ổn định về nguồn tài trợ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nợ phải trả của những doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng, trong đó chủ yếu là tăng sử dụng nợ vay ngắn hạn và loại nợ này chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nợ. Điều đó phản ánh mức độ rủi ro cao trong quyết định tài trợ của những doanh nghiệp Việt Nam. Sử dụng nợ vay quá mức trong đầu tư tài chính, kinh doanh BĐS là nguyên nhân dẫn tới sự mất cân đối tài chính, mất khả năng thanh khoản, hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam phải tạm ngừng hoạt động hoặc vỡ nợ trong thời kì vừa qua. Mục tiêu cơ cấu lại những khoản nợ của doanh nghiệp là chủ động kiểm soát nợ, giảm tỷ số nợ, phổ biến hóa nguồn tài trợ đồng thời tăng tỷ trọng NDH để đảm bảo an toàn tài chính. Trong đó, doanh nghiệp nên ưu tiên tập trung vào việc phát hành NDH qua TTTP, vì đây là thị trường sở hữu tiềm năng phân phối NVDH to.

Thứ ba, việc lựa chọn CTV gắn với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chứng minh, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp sở hữu tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều với việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Vì vậy, theo tác giả, những doanh nghiệp Việt Nam cần xem CTV là nhiệm vụ quan yếu trong chiến lược phát triển ngắn hạn và cả dài hạn của mình. CTV của doanh nghiệp xuất phát từ những yếu tố nội tại buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh CTV mục tiêu để thích hợp với quy mô tăng trưởng, những giai đoạn trong quá trình phát triển của chu kỳ kinh doanh và tình hình tài chính của mình. Theo Aswath Damadaran (1997), quá trình hình thành và phát triển của mỗi doanh nghiệp thường được chia thành 4 giai đoạn: khởi nghiệp, phát triển, bão hòa và suy thoái. Trong mỗi giai đoạn cụ thể, CTV thường sở hữu những đặc điểm riêng biệt. Những doanh nghiệp cần nhận định được đặc trưng vốn đầu tư trong từng giai đoạn để việc lựa chọn CTV hợp lý và xác định CTV mục tiêu thích hợp nhằm mang lại hiệu quả hoạt động cao nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp.
Thứ tư, việc lựa chọn CTV theo hướng gia tăng VCSH và năng lực tự tài trợ của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, việc lựa chọn CTV của những doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào khả năng sinh lời và TTCK. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp và TTCK sở hữu tác động nghịch chiều tới việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, hàm ý rằng những doanh nghiệp sở hữu lợi nhuận cao sẽ chủ động hơn trong vấn đề tài chính (cải thiện tính thanh khoản, phụ thuộc ít vào nợ vay và vốn đầu tư huy động từ bên ngoài). Tương tự, những doanh nghiệp sở hữu năng lực tài chính tốt, thuận tiện phát hành cổ phiếu để huy động vốn đầu tư, do đó sở hữu xu hướng giảm sử dụng nợ vay. Mặt khác, đối với những doanh nghiệp đang bị mất cân đối tài chính (Bảng 4.1) thì việc hạn chế sử dụng nợ, gia tăng VCSH là cần thiết. Chính vì vậy, để đạt được CTV mục tiêu thì việc lựa chọn CTV của những doanh nghiệp Việt Nam phải theo hướng tăng sử dụng VCSH thích hợp với mục tiêu phát triển của những doanh nghiệp Việt Nam, tăng hiệu quả hoạt động và tăng trị giá doanh nghiệp.
Để tăng VCSH, trước hết những doanh nghiệp cần tận dụng triệt để vốn đầu tư từ lợi nhuận giữ lại. Đây là nguồn lực tài chính giúp doanh nghiệp chủ động đáp ứng nhu cầu vốn, nắm bắt kịp thời những thời cơ đầu tư, giữ được quyền kiểm soát và sức ép trả nợ. Tuy nhiên, để sở hữu thể khai thác được vốn đầu tư này, những doanh nghiệp Việt Nam cần thực hiện những giải pháp tăng trưởng doanh thu, tiết kiệm mức giá hoạt động cũng như nghĩa vụ thuế nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và sở hữu chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý nhằm đẩy mạnh tích lũy lợi nhuận để tái đầu tư.
Kế bên, việc huy động tối đa vốn đầu tư bên trong từ lợi nhuận giữ lại, những doanh nghiệp cần tìm phương án hiệu quả nhất để huy động VCSH từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, vốn góp liên doanh, liên kết. Việc huy động vốn từ phát hành cổ phiếu rộng rãi trên TTCK trong điều kiện hiện nay còn một số khó khăn do TTCK Việt Nam còn nhiều biến động và chưa thực sự hồi phục sau thời kỳ suy thoái. Vì vậy, trong điều kiện Việt Nam vẫn đang là thị trường đầu tư khá quyến rũ với những nhà đầu tư nước ngoài, theo tác giả, những doanh nghiệp Việt Nam sở hữu thể xem xét khai thác vốn đầu tư từ những nhà đầu tư tiềm năng thông qua hình thức phát hành riêng lẻ nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Hình thức này giúp doanh nghiệp sở hữu khả năng huy động khối lượng vốn to đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh. Không những thế, doanh nghiệp còn sở hữu thể tiếp cận với kỹ thuật hiện đại và kỹ thuật quản lý từ những nhà sản xuất có thương hiệu của nước ngoài. Điều này được kỳ vọng sở hữu tác động thuận chiều tới việc tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, mỗi hình thức huy động đều sở hữu những điểm bất lợi riêng, đối với hình thức này sở hữu thể làm cho doanh nghiệp bị mất quyền kiểm soát, thay đổi trong chính sách quản lý cũng như quản lý, do đó, doanh nghiệp phải xem xét những yếu tố liên quan để ra quyết định cho thích hợp. Tương tự, doanh nghiệp sẽ chủ động và dự đoán trước những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.

Rate this post

Bình luận