Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp

Sự phối hợp của những tổ chức đoàn thể thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong cùng đồng dân cư về ý nghĩa và nhiệm vụ XDNTM, tuyên truyền tới những tầng lớp nhân dân, làm cho người dân thấy được vai trò chủ thể của mình; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa CQĐP và người dân; Thứ ba, tổ chức vận động người dân thi đua thực hiện XDNTM nhằm huy động những NLTC cho XDNTM; Thứ tư, kiểu mẫu tiên phong trong việc triển khai, thực hiện đóng góp nguồn lực cho XDNTM và thực hiện sử dụng hiệu quả những dự án NTM.

Thu hút DN đầu tư vào NN, NT với ý nghĩa rất quan yếu trong XDNTM

Một là, thông qua thu hút đầu tư của DN vào NN để khai thác tiềm năng, lợi thế NN của địa phương. Đối với sản xuất NN, thế mạnh của địa phương chủ yếu là những yếu tố liên quan tới thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, kinh nghiệm sản xuất. Tuy nhiên, những lợi thế và tiềm năng phát triển khó với thể phát huy, khó với thể biến những ưu thế nổi trội để đưa sản xuất NN từ quy mô nhỏ sang sản xuất hàng hoá ở quy mô to nếu ko với những nhân tố tác động vào để kích thích, xúc tiến. Trong đó, vai trò của DN với ý nghĩa quan yếu đối với việc phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của địa phương. Bởi vì, DN với những ưu thế nhất định và ưu việt hơn những loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác. Đó là, trình độ và khả năng chuyên môn hoá cao hơn trong sản xuất kinh doanh, tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm; quy mô vốn to hơn; với tư cách pháp nhân nên khả năng huy động NLTC cho hoạt động đầu tư tốt hơn; với trình độ khoa học cao hơn, nguồn nhân lực đông hơn, với chất lượng cao hơn do đó với khả năng mang lại hiệu quả đầu tư cao hơn. Với những ưu thế này, DN với vai trò và khả năng tốt hơn trong việc phát huy, khai thác tiềm năng, thế mạnh của NN địa phương.

Hai là, thu hút đầu tư của DN vào NN góp phần hạn chế rủi ro cho sản xuất NN và người ND. Sản xuất NN là ngành gặp rất nhiều rủi ro. Những yếu tố rủi ro trong NN gắn với việc sản xuất phải phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khả năng kiểm soát, phòng chống những loại dịch bệnh. Tuy nhiên, ở hầu hết tất cả quốc gia, đặc thù là tất cả quốc gia đang phát triển, do sản xuất NN chủ yếu theo phương thức truyền thống, nhỏ lẻ, phân tán do đó người ND thường ở vị thế là nhóm yếu thế hơn trong việc tiếp cận thị trường, tiếp cận nguồn lực sản xuất. Vị thế của người sản xuất nhỏ trong những giao dịch dễ bị chén ép. Sự tham gia của DN vào NN sẽ góp phần giảm bớt rủi ro, thông qua liên kết, rủi ro trong quá trình sản xuất sẽ được hạn chế, được san sẻ. Đồng thời, do với sự gắn kết quyền lợi giữa DN và ND do đó cả hai bên với xu hướng nỗ lực trong hạn chế rủi ro để bảo vệ lợi ích của chính mình và đối tác.

Ba là, thu hút đầu tư của DN vào NN góp phần gia tăng trị giá cho sản phẩm NN. Khái niệm chuỗi trị giá là khái niệm quản lý lần trước tiên được Michael Porter mô tả và giảng giải vào năm 1985, sau đó, khái niệm này được phổ biến rộng rãi trong phân tích những hoạt động kinh tế.

]. Ko chỉ ở Việt Nam, những nghiên cứu về chuỗi trị giá ở tất cả quốc gia khác đều chỉ ra thực tế đó. Ở những nền NN lạc hậu, phần to trị giá sản phẩm mới chỉ ngừng ở khâu sản xuất mà chưa quan tâm tới tạo ra GTGT cho sản phẩm NN ở những quá trình khác như chế biến, thương nghiệp. Chính vì thế, người ND thừa hưởng lợi ít nhất trong toàn bộ chuỗi trị giá đầy đủ của sản xuất NN. Thu hút đầu tư của DN vào NN là một trong những cách thức để làm gia tăng trị giá cho sản phẩm NN. Thông qua đầu tư trực tiếp của DN vào sản xuất, cũng như thông qua liên kết giữa DN với người ND, người ND với thể tham gia vào chuỗi trị giá sản phẩm, góp phần tăng hiệu quả sản xuất NN.

Bốn là, thu hút đầu tư của DN vào NN với thể tương trợ sản phẩm tiếp cận thị trường tiêu thụ. DN với khả năng tổ chức lưu thông hàng hóa nhằm đưa sản phẩm tới những thị trường tiêu thụ, đồng thời tạo ra những tiền đề bên ngoài (nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu) để đưa sản xuất hàng hoá ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán lên quy mô to, tiếp cận với thị trường toàn cầu. DN cũng căn cứ nhu cầu thị trường để xây dựng kế hoạch sản xuất và phân phối để tạo ra nhu cầu thị trường. DN góp phần cấu trúc lại nền sản xuất NN theo hướng gắn chặt sản xuất với thị trường, trên hạ tầng phát huy những lợi thế so sánh vùng, địa phương. DN cũng với điều kiện nắm bắt thông tin thị trường, yêu cầu về chất lượng, giá cả, chủng loại sản phẩm… do đó với khả năng đáp ứng và thay đổi bắt kịp với biến động của thị trường.

Năm là, thu hút đầu tư của DN là điều kiện quan yếu để phát triển NN theo hướng NN khoa học cao. Đưa khoa học cao vào sản xuất NN là cách duy nhất với thể thay đổi bức tranh NN lạc hậu với lối tư duy cũ. DN với ưu thế trong việc đưa khoa học vào sản xuất NN hơn những hộ ND cá thể do được tổ chức khoa học, với điều kiện tiếp cận thông tin về khoa học, vốn đầu tư. Đặc thù, dư địa cho tăng trưởng NN về năng suất, sản lượng, chất lượng sẽ rất to nếu xây dựng NN dựa trên nền tảng ứng dụng khoa học cao, kỹ thuật hiện đại. Việc vận dụng tiến bộ KHCN vào NN sẽ hạn chế được tác động ko thuận lợi của tự nhiên, từ đó tăng chất lượng, GTGT cho sản phẩm, đem lại lợi nhuận cao hơn cho sản xuất NN.

Sáu là, thu hút đầu tư của DN vào NN góp phần xúc tiến dịch chuyển cơ cấu kinh tế địa phương. Cơ cấu kinh tế của một địa phương được xem xét chủ yếu dưới hai góc độ là cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động. Một cách phổ biến, đầu tư của DN vào NN sẽ thay đổi cơ bản hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong NN, thay đổi về phương thức tổ chức sản xuất, quy mô đầu tư cũng như ứng dụng khoa học vào sản xuất. Đầu tư của DN vào NN của một địa phương ko những trực tiếp làm gia tăng trị giá sản xuất NN mà còn góp phần tăng trị giá sản xuất trong ngành công nghiệp, nhà sản xuất. Đồng thời đầu tư của DN vào NN sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, dịch chuyển lao động từ NN sang những ngành công nghiệp, nhà sản xuất phục vụ hoặc phái sinh từ sản xuất NN. Lao động NN được tổ chức dưới hình thức DN sẽ với tác phong lao động với kỷ luật, tuân thủ chặt chẽ trật tự sản xuất như người lao động công nghiệp. Thu hút đầu tư của DN vào NN cũng góp phần khắc phục việc làm ở NT, góp phần hạn chế tình trạng di dân ra thành phường.

Rate this post

Bình luận