Nội dung các chính sách kinh tế cụ thể của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh

Chính sách tác kinh tế của Nhà nước tương trợ doanh nghiệp tăng NLCT rất phổ thông, phong phú, và tác động tới doanh nghiệp dưới nhiều sự tác động khác nhau. Tùy vào điều kiện của mỗi quốc gia, địa phương, trong mỗi giai đoạn mà chủ thể chính sách sử dụng những chính sách cụ thể khác nhau. Căn cứ điều kiện cụ thể phát triển của doanh nghiệp Việt Nam và những địa phương (cấp tỉnh, thành phường) hiện nay, trong phạm vi của Luận án, tác giả tập trung nghiên cứu một số chính sách của Nhà nước sở hữu tác động quan yếu tới việc tăng NLCT với mục tiêu giảm giá bán và đổi mới thông minh theo thứ tự sắp xếp sau:

Vốn, tín dụng, thuế là một trong những vấn đề quan yếu trong hoạt động của doanh nghiệp và là vấn đề cơ bản trong hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước. Chính sách vốn, tín dụng, thuế sở hữu liên quan tới những phương tiện như quỹ đầu tư, lãi suất, thuế, đã tác động trực tiếp tới những doanh nghiệp theo những nhóm lựa chọn và ưu tiên, khuyến khích hay hạn chế. Chính sách về vốn – tín dụng, thuế liên quan tới khả năng huy động, sử dụng vốn của doanh nghiệp và quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp. Một chính sách về vốn, tín dụng, thuế đúng đắn, thích hợp với điều kiện quốc gia, doanh nghiệp, với lợi ích xã hội sẽ giúp huy động được nguồn tiền trong xã hội cho đầu tư, kinh doanh.

Mục tiêu của chính sách tương trợ vốn, tín dụng, thuế nhằm giảm giá bán đầu tư, sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp sở hữu hạ tầng, điều kiện hạ giá thành sản phẩm, nhà cung cấp trên hạ tầng đó tăng năng lực khó khăn. Để đầu tư, kinh doanh những doanh nghiệp thường chỉ sử dụng một phần vốn tự sở hữu, phần còn lại là vốn vay của những nhà băng, tổ chức tín dụng. Nếu lãi suất tín dụng cao, chính sách tương trợ tín dụng thấp những DN sẽ ko đủ vốn cần thiết cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh sẽ tác động ko nhỏ tới hiệu quả kinh doanh cũng như NLCT trên thị trường. Việc tiếp cận tài chính tín dụng khó khăn, hạn chế gây ra tình trạng phổ biến là những doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau, làm lây truyền rủi ro giữa những doanh nghiệp. Nói một cách khác năng lực tài chính của những doanh nghiệp yếu và thụ động. Những ưu đãi thuế (miễn, giảm, hoàn thuế trong thời kỳ thoạt tiên tư, kinh doanh, xuất khẩu, sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể giá bán hoạt động.

Tương trợ vốn, lãi suất tín dụng, ưu đãi thuế, hoàn thuế sẽ giúp những doanh nghiệp giảm được giá bán đầu vào, tăng chất lượng, khuyến mãi thành sản phẩm trên hạ tầng đó NLCT doanh nghiệp được nâng lên.

Bởi vậy, những doanh nghiệp rất cần sự tương trợ của Nhà nước thông qua việc tăng cường nguồn lực vốn cho những nhà băng và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng nhà băng, giảm lãi suất cho vay hoặc tương trợ doanh nghiệp về lãi suất, bảo lãnh tín dụng cũng như sở hữu chính sách miễn, giảm, hoàn thuế cho doanh nghiệp.

Đất đai là yếu tố ko thể thiếu được với những hoạt động của doanh nghiệp (đó là mặt bằng sản xuất, nhà xưởng, kho bãi, shop, trụ sở, văn phòng…). Đất đai lại là tài nguyên ko tái tạo được, trong lúc nhu cầu sử dụng cho xã hội, cho phát triển kinh tế, cho doanh nghiệp lại ngày càng tăng. Chính vì vậy, việc tiếp cận đất đai, thuê trụ sở, mặt bằng kinh doanh, nhà xưởng, luôn là vấn đề ko thể thiếu được, giận dữ, nóng bỏng cho doanh nghiệp. Chính sách đất đai với doanh nghiệp là một phòng ban của chính sách đất đai quốc gia, và gắn với thiết chế đất đai quốc gia. Thiết chế đất đai theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như quyền sở hữu đất, sử dụng đất, quản lý đất, kỹ thuật khai thác sử dụng đất v.v. còn theo nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm những vấn đề về sở hữu, về sử dụng và thu lợi, tức là về những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng.

Mục tiêu chính sách là tạo điều kiện để những doanh nghiệp dễ tiếp cận thuê đất, công khai, sáng tỏ, thuận tiện trong việc đền bù, phóng thích mặt bằng, giảm giá bán cho việc thuê mặ bằng sản xuất, kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.

Tương trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng, nhà xưởng sẽ tạo cho DN hình thành, mở rộng sản xuất, giảm giá bán đầu tư, tăng tài sản, mở rộng điều kiện tiếp cận những nguồn tín dụng tạo điều kiện giảm giá bán đầu vào, giá bán vận hành là hạ tầng để DN tăng NLCT. Bởi vậy, chính sách đất đai, tiếp cận đất đai được xem là nội dung quan yếu để giám định năng lực khó khăn của địa phương cũng như giúp những doanh nghiệp giảm giá bán, tăng NLCT.

Khoa học kỹ thuật ngày nay được xem là lực lượng vật chất trực tiếp quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Sự lạc hậu về kỹ thuật và TTB kỹ thuật sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm thấp, năng suất lao động ko cao, sản xuất kinh doanh ko ổn định và giá thành sản phẩm cao làm hạn chế NLCTcủa doanh nghiệp Khoa học kỹ thuật là phương tiện khó khăn quan yếu, then chốt trong sự tồn

tại và phát triển của doanh nghiệp. Ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến quyết định sự khác biệt sản phẩm trên những phương diện chất lượng, thương hiệu và giá cả. Trong điều kiện phát triển của cuộc cách mệnh 4,0 và trí tuệ nhân tạo, việc đầu tư TTB hiện đại, đổi mới kỹ thuật là một yêu cầu mang tính chiến lược với những DN. Với những doanh nghiệp giữ bản quyền sáng chế hoặc sở hữu cách kỹ thuật thì phương thức giữ gìn cách là yếu tố quan yếu tăng NLCT của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất, kinh doanh với từng doanh nghiệp là khó khăn, khá tốn kém và phức tạp đặc thù với những DNNVV.

Chính sách tương trợ về KH, CN sẽ giúp những doanh nghiệp sở hữu điều kiện tiếp cận KHCN mới, hiện đai, đổi mới thông minh, xây dựng thương hiệu, đăng ký bản quyền, tạo điều kiện cho năng suất, chất lượng sản phẩm tốt hơn, vị thế của doanh nghiệp cao hơn và từ đó NLCT được tăng. Bởi vậy, những doanh nghiệp luôn mong muốn Nhà nước sở hữu những chính sách tương trợ về KHCN.

Ngoài những yếu tố kết cấu hạ tầng, môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực khó khăn của doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng và thông qua con người. Con người là nguồn lực quan yếu nhất của cho sự phát triển của xã hội cung như của doanh nghiệp. Để sở hữu hàng ngũ lao động sở hữu tay nghề cao, quản lý giỏi, thông minh, NSLĐ cao những doanh nghiệp phải sở hữu chiến lược tuyển dụng, huấn luyện và sử dụng người tài, phải sở hữu chiến lược huấn luyện nghiệp vụ chuyên sâu, thích hợp với yêu cầu. Đồng thời, từng doanh nghiệp phải chú trọng xây dựng chính sách đãi ngộ như chính sách lương, thưởng hợp lý để giữ ổn định lực lượng lao động của mình, nhất là những lao động giỏi. Doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý tiêu dùng người, phải trao quyền chủ động cho viên chức và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích ứng cao với sự thay đổi.

Mục tiêu của chính sách tương trợ nhằm tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao, giá bán thấp để những doanh nghiệp sở hữu thể tuyển dụng, sử dụng lại phụ thuộc rất to vài chính sách huấn luyện, việc làm, đãi ngộ của Nhà nước. Mặt khác, quá trình huấn luyện, huấn luyện bổ sung cũng khá tốn kém, khó khăn cho từng doanh nghiệp. Bởi vậy, chính sách tương trợ huấn luyện nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng cao luôn được những doanh nghiệp quan tâm. Mặt khác, chính sách tương trợ huấn luyện lao động còn sở hữu ý nghĩa khắc phục việc làm, giảm thất nghiệp, tăng mức sống nhân dân của chính phủ cũng như chính quyền các đơn vị quản lý.

Chính quyền địa phương thông qua chính sách phát triển, những đề án, quyết định thuộc thẩm quyền và sử dụng NSĐP để tăng chất lượng hệ thống hạ tầng huấn luyện, tương trợ học bổng, giá bán huấn luyện, xã hội hóa huấn luyện, kết hợp cơ chế phối hợp 3 nhà (nhà trường, nhà doanh nghiệp và Nhà nước) trong huấn luyện, huấn luyện theo liên hệ.

Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất cần biết thị trường đang cần dòng gì? cần bao nhiêu? điều đó đồng nghĩa với việc sản xuất dòng gì? bao nhiêu? tiêu thụ ở đâu? Những doanh nghiệp phải tìm cách tận dụng những nguồn thông tin, tìm hiểu thị hiếu tiêu tiêu dùng của khách hàng thông qua hoạt động chiếm lĩnh những điểm bán hàng tối ưu, thông qua quảng cáo, triển lãm giới thiệu sản phẩm tới nhiều người tiêu tiêu dùng, giới thiệu sản phẩm để khách hàng tiêu dùng thử, phổ thông hóa chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm và giá bán bán hàng để tận dụng hết những phân đoạn thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp còn mở rộng tối đa thị trường cho sản phẩm thông qua hệ thống đại lý, liên doanh, mở chi nhánh, văn phòng đại diện, nhượng quyền thương nghiệp ở những nơi sở hữu nhu cầu.

Để trả lời những thắc mắc tạo điều kiện cho doanh nghiệp sở hữu hướng sản xuất, kinh doanh thích hợp với thị trường tất cả quốc gia thường sở hữu những chính sách trợ giúp doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thông qua thăm dò, nghiên cứu, mở thị trường mới (thông qua việc tổ chức Hội chợ, triển lãm, tổ chức những đoàn thăm quan, khảo sát thị trường hoặc cung ứng miễn phí những thông tin về thực trạng và triển vọng thị trường trong nước và quốc tế, nới rộng định mức giá bán tuyên truyền, quảng cáo, advertising and marketing trong giá bán của doanh nghiệp.

Rate this post

Bình luận