Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn bên trong DN

Quy mô DN: được phản ánh qua mục tiêu quy mô tổng tài sản bình quân hoặc quy mô doanh thu thuần. Lý thuyết đánh đổi cho rằng những DN quy mô to thường sở hữu quy mô và tỷ trọng nợ vay ở mức cao. Điều này được giảng giải do những DN quy mô to sở hữu khả năng cao đối với hoạt động rộng rãi hoá đầu tư, dòng tiền hoạt động kinh doanh sở hữu tính ổn định cao và sở hữu lượng tài sản quy mô to sử dụng làm tài sản thế chấp đối với những khoản nợ vay nên xác suất vỡ nợ thấp và DN bởi vậy tiện dụng tiếp cận với thị trường vốn. Lý thuyết trật tự phân hạng lại cho rằng những DN quy mô to thường sở hữu quy mô và tỷ trọng nợ vay ở mức thấp. Lý thuyết này cho rằng DN quy mô to thường được giám sát chặt chẽ bởi những tổ chức tín dụng, vấn đề thông tin bất đối xứng thấp nên gặp thuận lợi trong việc phát hành cổ phần với mức giá hợp lý và hạn chế sử dụng nợ Những nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô DN và xu hướng sử dụng nợ vay bao gồm những nghiên cứu của những tác giả: Agrawal và Nagarajan (1990) [24], Bevan và Danbolt (2002) [26], Marsh (1982) [35], Fama và Jensen (1983)[30]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Kester (1986) [32], Titman và Wessels (1988) [49] lại chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô DN và xu hướng sử dụng nợ vay.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh: được phản ánh chủ yếu qua những mục tiêu: tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP). Lý thuyết trật tự phân hạng đã kể tới sự ưu tiên của nhà quản trị trong quyết định lựa chọn tài chính. DN sở hữu hiệu quả hoạt động kinh doanh cao sở hữu xu hướng sử dụng nợ vay ở mức thấp. Nguyên nhân ở đây ko phải do cơ cấu tài chính mục tiêu thấp mà tính “trật tự phân hạng” đã làm cho nhà quản trị đưa ra quyết định lúc chưa cần tới tài chính nợ vay. Tuy nhiên, trong trường hợp hiệu quả hoạt động kinh doanh ở mức thấp, nợ vay lại lại một sự lựa chọn hàng đầu do tài chính bên trong ko đủ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu của Kester (1986) [32], Good friend và Lang (1988) [31] cũng chỉ ra hiệu quả hoạt động kinh doanh sở hữu mối quan hệ ngược chiều với hệ số nợ của DN. Lý thuyết đánh đổi lại sở hữu ý kiến trái lại lúc cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN ở mức cao tạo ra sự an tâm đối với chủ nợ lúc đưa ra quyết định phân phối tín dụng cho DN. Ko những vậy, tính hữu ích của “tấm lá chắn thuế” luôn đem lại cho những nhà quản trị DN hướng tới xu hướng sử dụng nợ vay lúc hiệu quả hoạt động kinh doanh ở mức cao.

Triển vọng tăng trưởng: được phản ánh thông qua tốc độ tăng trưởng tổng tài sản hoặc tốc độ tăng trưởng doanh thu của DN. Thông thường, triển vọng tăng trưởng sở hữu mối quan hệ thuận chiều với mức độ sử dụng nợ vay do DN sở hữu triển vọng tăng trưởng cao sẽ truyền tải tín hiệu tích cực đối với những nhà đầu tư bên ngoài. Tuy nhiên, lý thuyết mức giá đại diện lại chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa triển vọng tăng trưởng và xu hướng sử dụng nợ vay như sau: triển vọng tăng trưởng cao của DN sẽ khuyến khích DN thực hiện chính sách mở rộng thị trường, cải tiến kỹ thuật để tăng khả năng khó khăn; để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, DN cần lựa chọn tài chính thích hợp để bảo vệ lợi ích cổ đông hiện hành nên thường dựa vào sự tài trợ từ tài chính chủ sở hữu. Bởi vì, nếu nợ vay của DN gia tăng thì lúc mức độ tăng trưởng cao phần lợi nhuận của dự án sẽ chuyển sang phía chủ nợ nên cổ đông sẽ hạn chế đầu tư vào DN. Một số nghiên cứu cùng ý kiến với lý thuyết mức giá đại diện về mối quan hệ giữa triển vọng tăng trưởng và cơ cấu tài chính bao gồm những nghiên cứu của những tác giả: Rajan và Zingales (1995)[44], Wald (1999), Kim và Stulz (1996), Chen (2004)[21], Syed Tahir Hijazi và Yasir Bin Tariq (2006), Deesomsak, R. and Paudyal, Okay. and Pescetto, (2009), và Anifowse Mutalib (2011).

Cơ cấu tài sản: được phản ánh qua cac mục tiêu đo lường cơ cấu tài sản như: tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản; tỷ lệ tài sản dài hạn trên tổng tài sản hay tỷ lệ tài sản khăng khăng hữu hình trên tổng tài sản. Theo lý thuyết đánh đổi, tính hữu hình của tài sản là nhân tố đại diện cho khả năng năng thế chấp của tài sản đối với những khoản nợ vay. DN sở hữu tài sản khăng khăng hữu hình càng cao thì sẽ hạn chế được nguy cơ đối với chủ nợ trong hợp DN mất khả năng trả tiền và làm giảm mức giá đại diện của nợ vay và làm giảm lãi suất đi vay. Tương tự, lý thuyết đánh đổi cho rằng sở hữu mối quan hệ thuận chiều giữa hệ số đòn bẩy tài chính và tỷ trọng tài sản khăng khăng hữu hình. Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng những DN với quy mô tài sản hữu hình cao sẽ hạn chế được vấn đề thông tin bất đối xứng. Bởi vậy, những DN này sở hữu xu hướng sử dụng vốn cổ phần nhiều hơn so với nợ vay. Tương tự, lý thuyết trật tự phân hạng lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ tài sản khăng khăng hữu hình và xu hướng sử dụng nợ vay của DN.

Khả năng trả tiền: được phản ánh qua những mục tiêu về khả năng trả tiền bao gồm: hệ số trả tiền hiện hành; hệ số trả tiền nhanh; hệ số trả tiền hiện thời. Khả năng trả tiền sở hữu thể sở hữu tác động khác nhau tới quyết định cơ cấu tài chính. Theo lý thuyết đánh đổi, những DN sở hữu khả năng trả tiền cao sở hữu khả năng đáp ứng cao đối với nghĩa vụ nợ tới hạn nên được chủ nợ xếp hạng tín nhiệm cao hơn và do đó sẽ gặp thuận lợi trong việc sử dụng nợ vay. Tuy nhiên, theo lý thuyết trật tự phân hạng, những DN sở hữu tính thanh khoản cao sẽ sở hữu xu hướng tiêu dùng chính những tài sản sở hữu tính thanh khoản cao để tài trợ cho những dự án đầu tư nên sẽ ưu tiên sử dụng tài chính từ nội sinh hơn so với tài chính bên ngoài từ nợ vay. Prowse (1990) [46] lập luận rằng tính thanh khoản của tài sản sở hữu thể được sử dụng để chỉ ra phạm vi mà những tài sản này sở hữu thể bị thao túng bởi cổ đông, gây thiệt hại cho trái chủ. Ozkan (2001) chỉ ra rằng khả năng trả tiền sở hữu mối quan hệ ngược chiều với đòn bẩy tài chính.

– Rủi ro kinh doanh: phản ánh bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của lợi nhuận kinh doanh so với phần trăm thay đổi của doanh thu hoặc sản lượng. Rủi ro kinh doanh của DN cao sẽ gây lên mối lo ngại về khả năng thua lỗ hoặc vỡ nợ của DN. DN sở hữu rủi ro kinh doanh cao thường sở hữu xu hướng giảm tỷ trọng nợ vay để giảm rủi ro tài chính qua đó giảm rủi ro tổng thể của DN. Bởi vậy, những DN sở hữu rủi ro kinh doanh cao thường sở hữu xu hướng chủ yếu trong ưu tiên sử dụng tài chính. Frank và Goyal (2003) chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh và cơ cấu tài chính sở hữu mối quan hệ ngược chiều.

– Đặc điểm riêng của DN: phản ánh những đặc trưng riêng của DN về hàng hoá – nhà sản xuất, ngành nghề, ngành sản xuất kinh doanh. Những DN sở hữu chu kỳ sản xuất – kinh doanh dài, vòng quay vốn chậm như những DN kinh doanh trong những ngành khai thác, chế biến, hầm mỏ.. thông thường sở hữu cơ cấu tài chính nghiên về vốn chủ sở hữu. Trái lại, những DN hoạt động trong những ngành sở hữu mức nhu cầu về sản phẩm ổn định, vòng quay vốn nhanh như những ngành thương nghiệp, dịch thì cơ cấu tài chính thường nghiên về nợ vay.

Thuế thu nhập DN: phản ánh số thuế mà DN phải nộp trên tổng lợi nhuận trước thuế của DN. Lý thuyết M&M trong trường hợp sở hữu thuế cho rằng lợi ích từ “tấm lá chắn thuế” sẽ xúc tiến DN vay nợ để thừa hưởng lợi do mức giá lãi vay được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế lúc tính thuế thu nhập DN. Theo đó, những DN sử dụng nợ vay sẽ phải nộp thuế ít hơn so với những DN ko sử dụng nợ vay. Điều này khiến cho cho dòng tiền sau thuế của DN sở hữu vay nợ sẽ cao hơn dòng tiền sau thuế của DN ko vay nợ, do yếu tố lãi vay đã đem lại cho những cổ đông khoản tiết kiệm thuế. Tương tự, những đơn vị với thuế suất cao hơn sẽ sử dụng nhiều nợ, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn để đạt lợi ích từ tấm chắn thuế.

Rate this post

Bình luận