Gợi ý việc chọn cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh tế [3]

Thứ năm, việc lựa chọn CTV gắn liền với việc cơ cấu lại những danh mục đầu tư, TSCĐ của doanh nghiệp
Tại Việt Nam hiện nay, những TCTD sử dụng những hình thức bảo đảm nợ vạy là giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo hạ tầng kinh tế và pháp lý để thu hồi được những khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng. Do đó, TSCĐ của doanh nghiệp là một trong những tài sản được tiêu dùng để thế chấp những khoản nợ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp mang TSCĐ to thì thuận tiện trong việc tiếp cận những vốn đầu tư tín dụng cũng như phát hành nợ mang đảm bảo hoặc vay nợ mang tài sản thế chấp với giá thành tài chính thấp, lãi suất ưu đãi hơn. Mặt khác, hàm ý lý thuyết chu kỳ kinh tế lúc nền kinh tế phục hồi, doanh nghiệp nên ưu tiên sử dụng chiến lược đầu tư, trong đó mang đầu tư mở rộng quy mô hoạt động và TSCĐ. Do đó, theo tác giả trong dài hạn hoặc trong thời kỳ phục hồi những doanh nghiệp Việt Nam nên ưu tiêu sử dụng chiến lược đầu tư – đẩy mạnh hoạt động đầu tư, nhất là ưu tiên đầu tư TSCĐ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã chứng minh năng lực quản trị tài chính của những doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái khá hạn chế – tăng TSCĐ để thuận tiện huy động vốn đầu tư từ phát hành nợ, bù đắp cho những khoản thiếu hụt về tài chính của mình. Điều này trái với quan niệm của Lý thuyết chu kỳ kinh tế. Do đó, theo tác giả, những doanh nghiệp Việt Nam cần quản lý danh mục TSCĐ của mình tốt hơn – bằng cách lập kế hoạch đầu tư, tìm sắm TSCĐ hàng năm và mang chính sách quản lý tài khoản khấu hao thích hợp. Định kỳ doanh nghiệp cần rà soát, thẩm định tình hình sử dụng tài sản, kịp thời thanh lý những tài sản ko cần thiết nhằm tăng NVDH cũng như đảm bảo nhu cầu trả tiền tạm thời của mình.
Ngoài ra, những doanh nghiệp Việt Nam cũng cần lưu ý việc đầu tư TSCĐ phải dựa trên kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình, tình hình tài chính, điều kiện môi trường kinh doanh và điều kiện vĩ mô tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Đặc trưng đối với những doanh nghiệp mang CTV trên ngưỡng CTV mục tiêu và đang mang tình hình tài chính khó khăn, mất cân đối tài chính (được trình bày tại Bảng 4.1) thì việc cơ cấu lại danh mục đầu tư là cần thiết, ưu tiên hàng đầu trước lúc thực hiện cơ cấu vốn đầu tư.
Những doanh nghiệp cũng cần lưu ý, việc tăng đầu tư vào TSCĐ phải gắn liền với việc điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư theo hướng hạn chế sử dụng NNH mà tăng cường vốn đầu tư tài trợ dài hạn để đảm bảo tính thăng bằng giữa cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu tài sản, tránh tình trạng như hiện nay việc sử dụng NNH để tài trợ cho hoạt động đầu tư TSCĐ. Điều này mang thể dẫn tới tình trạng mất cân đối tài chính và rủi ro mất khả năng trả tiền của doanh nghiệp. Do đó, những giải pháp đặt ra lúc gia tăng đầu tư TSCĐ phải gắn liền với điều chỉnh cơ cấu vốn theo hướng gia tăng NVDH.
Thứ sáu, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp phải đảm bảo thích hợp với sự biến động của môi trường kinh doanh, gắn với chu kỳ kinh tế Việt Nam và toàn cầu.
Môi trường kinh doanh là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp. Lúc môi trường kinh doanh biến động, doanh nghiệp cần điều chỉnh hoạt động của mình để tránh những tác động nghịch chiều tới khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thật vậy, kết quả nghiên cứu đã chứng minh, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) những yếu tố kinh tế vĩ mô đóng góp 16,4% vào việc lựa chọn CTV của những doanh nghiệp Việt Nam, đặc thù trong thời kỳ suy thoái mức đóng góp này lên tới 35% và trong thời kỳ phục hồi con số này giảm còn 4%. Mặt khác, kết quả nghiên cứu cho thấy, trong từng pha của chu kỳ kinh tế toàn cầu, những biến kinh tế vi mô mang chiều hướng mang tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều tới việc lựa chọn CTV của những doanh nghiệp Việt Nam – trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu những biến như quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản tác động nghịch chiều tới việc lựa chọn CTV, nhưng trong thời kỳ phục hồi, những biến này lại mang tác động thuận chiều. Do đó, trong từng thời kỳ thì để đạt được CTV mục tiêu thì việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng phải gắn với môi trường kinh doanh, chu kỳ kinh tế trong nước và toàn cầu. Vì vậy, việc lựa chọn CTV những doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý hai vấn đề sau:
Một là, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sau rộng vào kinh tế khu vực và toàn cầu việc tăng khả năng khó khăn để tồn tại đang tạo sức ép to đối với những doanh nghiệp Việt Nam, chu kỳ kinh tế toàn cầu tác động mạnh tới chu kỳ tăng trưởng của Việt Nam. Trước thực tế đó, việc lựa chọn vốn đầu tư những doanh nghiệp Việt Nam phải gắn liền với mục tiêu tăng năng lực khó khăn, khắc phục khó khăn trong hoạt động kinh doanh, từng bước lành mạnh hóa và tăng năng lực tài chính. Một trong những nhân tố then chốt để tăng năng lực khó khăn của những doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề vốn, quy mô doanh nghiệp, thời cơ tăng trưởng, kỹ thuật kỹ thuật hiện đại, năng lực sản xuất và cải tiến chất lượng sản phẩm. Trong đó, cần nhất tăng năng lực về vốn và khoa học, kỹ thuật, kỹ thuật hiện đại.
Hai là, kinh tế toàn cầu phục hồi nhưng tiềm tàng rủi ro, tác động tới kinh tế Việt Nam, gây ra những trở ngại trong hoạt động kinh doanh cũng như tiến trình cơ cấu vốn đầu tư của những doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, để đảm bảo năng lực tài chính vững mạnh qua đó tạo sự ổn định trong hoạt động của mình, những doanh nghiệp Việt Nam cần mang chính sách cơ cấu vốn đầu tư thích hợp và mang chiến lược dài hạn nhằm tăng cường năng lực tự chủ tài chính, khả năng thanh khoản của mình, ưu tiên trước nhất là từ tích lũy lợi nhuận giữ lại cũng như tận dụng mọi thời cơ tăng vốn cổ phần từ bên ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, những doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với khó khăn trong việc huy động vốn, đặc thù từ TTCK. Do đó, cần thiết mang sự tương trợ về phía Chính phủ và kế hoạch huy động vốn trong dài hạn.

Rate this post

Bình luận