Tình hình phát triển giáo dục công lập tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2017

Hệ thống giáo dục tỉnh Thanh Hóa sở hữu tất cả các đơn vị quản lý học và mô phỏng trường học công lập hiện sở hữu ở Việt Nam. Hệ thống giáo dục phổ thông tại địa phương sở hữu trường măng non tới những trường phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) và những trường đa cấp (tiểu học và THCS, THCS & THPT). Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm quản lý chung về giáo dục tập huấn trên khu vực tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh quản lý những cơ sở vật chất giáo dục cấp tỉnh (những trường cao đẳng, trung cấp, những trường THPT, trường phổ thông sở hữu nhiều cấp học sở hữu cấp THPT, trường phổ thông DTNT, trung tâm GDTX cấp tỉnh, trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cấp tỉnh và những cơ sở vật chất giáo dục khác theo quy định của UBND cấp tỉnh). Cấp quận và cấp xã quản lý những trường măng non, tiểu học, THCS, trường phổ thông sở hữu nhiều cấp học ko sở hữu cấp THPT, trường phổ thông dân tộc bán trú và những cơ sở vật chất giáo dục khác (nếu sở hữu).

Giai đoạn 2011-2017, ngành giáo dục Thanh Hóa xác định nhiệm vụ là phát triển giáo dục, tập huấn theo hướng chuẩn hoá, tăng chất lượng nhóm thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng xã hội học tập; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, tập huấn nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển giáo dục – tập huấn. Tới năm 2015, sở hữu 100% thầy giáo ở những bậc học đều đạt chuẩn, trong đó 30 – 35% trên chuẩn. Tăng cường cơ sở vật chất vật chất phục vụ dạy và học, hoàn thành việc kiên cố hoá trường, lớp học trên khu vực Tỉnh trước năm 2015; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia, tới năm 2020 tỷ lệ trường đạt chuẩn ở măng non 65%, tiểu học 65%, THCS 65% và trung học phổ thông 50%. Duy trì và củng cố thành tựu phổ cập THCS và triển khai phổ cập trung học phổ thông, phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học phổ thông trước năm 2020

Với ý thức đó, tới năm 2017, toàn tỉnh sở hữu 2.140 trường với trên 740.000 học trò: Măng non 662 trường; Tiểu học 694 trường; Tiểu học và THCS: 19 trường; THCS: 629 trường; THCS và THPT: 06 trường; THPT: 101 trường; Trung tâm GDTX – dạy nghề: 28; Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp: 1 trung tâm; 635 trung tâm học tập cùng đồng xã, phường, thị trấn, đạt 100% số xã, phường, thị trấn sở hữu trung tâm học tập cùng đồng.

Giai đoạn 2011-2017, quy mô giáo dục phát triển hợp lý, chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên; kết quả thi học trò giỏi quốc gia, quốc tế và thi đại học luôn ở tốp đầu cả nước. Việc thực hiện chủ trương đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục ở các đơn vị quản lý học, bậc học sở hữu chuyển biến; chất lượng giáo dục miền núi được nâng lên; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS được giữ vững; hoàn thành phổ cập giáo dục măng non cho trẻ 5 tuổi trước thời hạn; đã chuyển những trường măng non bán công sang công lập; chỉ đạo khắc phục thầy giáo dôi dư và chỉnh đốn việc tuyển dụng, điều chuyển, bổ nhiệm cán bộ, thầy giáo; từng bước khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định và lạm thu trong những nhà trường.

Kết quả hoạt động của ngành giáo dục trên những mặt cụ thể như sau:

Số lượng những trường măng non, tiểu học, THCS được sắp xếp lại và phát triển theo hướng hợp lý đã góp phần gia tăng số lượng học trò tới trường ở các đơn vị quản lý học. Giai đoạn 2011-2017, mục tiêu về duy trì tỷ lệ trẻ tới trường ở các đơn vị quản lý học cơ bản đạt được. Tỷ lệ học trò đi học tiểu học đạt 100%, THCS đạt khoảng 95%, THPT đạt từ 60-69%. Tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi ở các đơn vị quản lý học cũng cơ bản đạt mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn. Trong đó, tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt trên 98%; cấp THCS đạt từ 93-97%; cấp THPT đạt khoảng 60% (riêng niên học 2016-2017 đạt 85%). Hoàn thành phổ cập giáo dục măng non cho trẻ em 5 tuổi vào tháng 4/2015; Kết phổ quả cập giáo dục tiểu học và THCS đúng độ tuổi được duy trì và giữ vững.

Sự phát triển của ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2017, đặc thù là những kết quả phát triển giáo dục cơ bản sẽ tạo ra động lực và những tiền đề vững chắc cho việc đổi mới phương thức quản lý giáo dục, quản lý chi NSĐP cho GDCL. Việc đổi mới quản lý chi NSĐP cho GDCL trong giai đoạn tới sẽ hướng tới mục tiêu phát triển vững bền giáo dục trên khu vực tỉnh Thanh Hóa.

Hạ tầng vật chất được đầu tư; số lượng và chất lượng nhóm thầy giáo ngày càng được cải thiện. Số lượng thầy giáo ở các đơn vị quản lý học cơ bản được duy trì ổn định. Số thầy giáo măng non năm 2012 sở hữu sự tăng đột biến so với năm 2011 do thực hiện chuyển những trường măng non bán công thành trường công lập. Tỷ lệ thầy giáo đạt chuẩn xấp xỉ 100% ở các đơn vị quản lý học. Tỷ lệ học trò/thầy giáo ở các đơn vị quản lý học cơ bản đáp ứng định mức quy định về số lượng thầy giáo/lớp. Tuy nhiên, số lượng thầy giáo măng non vẫn chưa giải quyết được nhu cầu so với định mức quy định. Tỷ lệ học trò/thầy giáo dao động từ 14-17 học trò/thầy giáo trong lúc định mức quy định từ 8-13 học trò/thầy giáo tùy theo nhóm lớp, nhóm trẻ và theo vùng miền.

Hạ tầng vật chất phục vụ giảng dạy và học tập ngày càng được quan tâm đầu tư. Số lượng phòng học cơ bản giải quyết được yêu cầu học tập của học trò, tỷ lệ phòng học kiên cố ở các đơn vị quản lý học được duy trì, trong đó, bậc măng non sở hữu tỷ lệ phòng học kiên cố là 72,6%; tiểu học 81,4%; THCS 94,24%; THPT 96,52%.

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia cơ bản đạt mục tiêu đề ra đầu giai đoạn, trong đó, măng non đạt 56%, tiểu học 81%, THCS 57%, THPT 28%.

Rate this post

Bình luận