Khoảng cách địa lý, khoảng cách công nghệ, khoảng cách thể chế

– Khoảng cách địa lý

Mặc dù, biến khoảng cách giữa hai quốc gia (LnWDistij) ko mang ý nghĩa về mặt thống kê, tuy nhiên hệ số ước tính của biến này mang trị giá âm. Kết quả này hoàn toàn đúng về mặt lý thuyết, đó là khoảng cách về mặt địa lý giữa hai quốc gia càng xa nhau thì giá bán vận tải càng cao và càng làm giảm thương nghiệp hai chiều giữa hai quốc gia.

– Khoảng cách kỹ thuật

Theo kết quả mô phỏng hồi quy, biến “khoảng cách kỹ thuật” (TDiJt) tác động theo chiều hướng tiêu cực tới xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU. Cụ the đó là, lúc sự khác biệt về kỹ thuật tăng 1% thì xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang EU sẽ giảm 0,308%. Chỉ số mức độ sẵn sàng về kỹ thuật giai đoạn 2006-2015 (phụ lục 8) cho thấy một khoảng cách khá xa về kỹ thuật giữa Việt Nam và EU. Nhìn chung, chỉ số kỹ thuật của Việt Nam thấp hơn nhiều so với EU. Lúc sự khác biệt về kỹ thuật càng to, tức là kỹ thuật sản xuất của Việt Nam chưa hiện đại và sánh kịp với kỹ thuật của những nước EU, từ đó sẽ làm giảm khả năng khó khăn hàng chế biến của Việt Nam do giá thành sản xuất tăng cao, gây ra ô nhiễm môi trường, tác động tới thương hiệu sản phẩm. Điều này gây bất lợi cho xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU.

– Khoảng cách thiết chế

Hệ số ước tính của biến “khoảng cách th chế” (ID1Jt) giữa Việt Nam và EU mang dấu âm và mang ý nghĩa thống kê ở mức 0,05. Kết quả tính toán cho thấy, sự khác biệt về môi trường the chế tăng lên 1% thì xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang EU sẽ giảm là 0,114% với điều kiện những yếu tố khác ko đổi. Trước xu hướng bảo hộ ngày càng gia tăng của EU, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước yêu cầu về đổi mới, cải cách cơ chế, chính sách thương nghiệp, đầu tư đe rút ngắn khoảng cách the chế với đối tác thương nghiệp to này. Nếu ko mang chính sách thích hợp thì mang the tác động to tới tình hình sản xuất kinh doanh, xuất khẩu hàng chế biến, thu hút những vốn đầu tư đầu tư nước ngoài, qua đó tác động tới tăng trưởng của nền kinh tế.
Tại Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ: “Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ mang hiệu quả những nguồn lực phát trien, là động lực chủ yếu đe phóng thích sức sản xuất… Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện the chế kinh tế, tạo môi trường khó khăn đồng đẳng, sáng tỏ và lành mạnh”.

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng. Tính tới năm 2016, mức tăng trưởng của ngành công nghiệp – xây dựng đã đạt ở một con số ấn tượng là 16%/năm, tuy nhiên mức tăng trưởng trong ngành nghề chế biến, chế tạo chỉ đạt 1,6%. Sở hữu thể nhận thấy, mức tăng trưởng này chủ yếu từ những ngành khai thác khoáng sản, gia công sản phẩm, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên là chính, chưa tập trung phát triển ngành nghề công nghiệp chế biến, chế tạo đem lại GTGT cao cho nền kinh tế. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên đó là do rào cản về thiết chế kinh tế. Rào cản về thiết chế kinh tế của Việt Nam thể hiện ở chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật chưa cao, liên tục phải điều chỉnh; một số luật còn chồng chéo, nhiều bất cập nên khó đưa vào thực tiễn. Ngoài ra, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả, hàng ngũ công chức thiếu ý thức trách nhiệm, gây phiền nhiễu, khó khăn; những chủ thể tham gia nền kinh tế chưa được đối xử đồng đẳng; thủ tục hành chính rất nhiều, rườm rà và phức tạp…

Những rào cản đó gây trở ngại cho việc quản lý kinh tế của Nhà nước, suy giảm sức khó khăn của nền kinh tế và làm lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của quốc gia.

Theo chỉ số quản trị toàn cầu (World governance index), Việt Nam được thẩm định cao ở chỉ số “ổn định chính trị” và “hiệu quả của chính phủ” (Phụ lục 10). về chỉ số “hiệu quả của chính phủ”, phản ánh nhận thức về chất lượng nhà sản xuất công, chất lượng của nhà sản xuất dân sự, Việt Nam đã mang những bước phát triển trong thời kì sắp đây. Hai ngành nghề Việt Nam còn yếu kém đó là: “Tiếng nói và trách nhiệm giải trình”, “chất lượng quy định”. Trong đó, “tiếng nói và trách nhiệm giải trình” được xếp hạng rất thấp. Mục tiêu “chất lượng quy định” phản ánh nhận thức, khả năng của chính phủ để xây dựng và thực hiện những chính sách, quy định xúc tiến phát triển khu vực tư nhân cũng chưa được cải thiện nhiều. Hiện nay, một vấn đề nhức nhối trong xã hội nước ta đó là tham nhũng. Vấn đề tham nhũng mặc dù đã được nhà nước nỗ lực ngăn chặn nhưng vẫn còn nhiều tồn tại. Điều này được thể hiện ở chỉ số “kiểm soát tham nhũng” với xếp hạng phần trăm so với những nước là dưới 50%. Sở dĩ mức độ kiểm soát tham nhũng ở Việt Nam còn thấp là vì hệ thống tư pháp chưa hoàn toàn độc lập dẫn tới khó khăn trong việc ngăn chặn tình trạng lạm chức, lạm quyền của cán bộ.

Theo ông Sebastion Eckrdt (Nhà băng toàn cầu tại Việt Nam) cho biết “Nhiều quy định, luật lệ của VN cũng chênh với nước EU và đây chính là cản trở để hội nhập sâu rộng. Việt Nam cần cải cách nền hành chính, thủ tục thông thoáng hơn, đặc thù đâu tư vốn đầu tư cho những doanh nghiệp để họ mang tiềm lực xuất khẩu cũng như khai thác những thị trường quốc tế”. Thật vậy, so sánh với những nước thành viên EU, mang thể thấy rõ sự khác biệt của những mục tiêu đo lường chất lượng thiết chế giữa Việt Nam và những nước EU. xếp hạng những chỉ số của EU đều ở mức rất cao. Việt Nam đang mang một khoảng cách rất xa về thiết chế so với những nước EU.

Nhận định của WEF cũng cho thấy chỉ số chất lượng thiết chế của Việt Nam thấp hơn nhiều so với phần to những nước thành viên EU. Trong giai đoạn 2006-2015, chỉ số thiết chế của Việt Nam chỉ dưới mức 4,0, trong lúc đó, hầu hết những nước EU chỉ số này khá cao (Phụ lục 11).

Trong những năm sắp đây, Việt Nam đã tham gia thương lượng và ký kết những hiệp nghị thương nghiệp tự do (FTA) track phương, đa phương để tăng cường tự do hóa thương nghiệp với mức độ cam kết sâu rộng. Việt Nam đã được rất nhiều sự đồng thuận từ cùng đồng, bởi đại tất cả nhân dân đều nhận thức được rằng hội nhập quốc tế là con đường thế tất dẫn tới thành công. Lúc tham gia FTA với những nước, nhất là với những nước phát triển, Việt Nam sẽ xúc tiến cải cách thiết chế trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp, đưa nền kinh tế của quốc gia ngày càng phát triển hơn.

Đứng trước xu hướng kinh tế toàn cầu mang những biến động khó lường, cuộc cách mệnh công nghiệp lần thứ tư (hay 4.0) đặt ra cho nước ta với thời cơ và thách thức rất to, việc đổi mới, cải cách cơ chế, chính sách thương nghiệp, đầu tư cho thích hợp luôn là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra bởi những chính sách mang tác động to tới xuất khẩu, vốn đầu tư đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, hoạt động sản xuất kinh doanh.. .từ đó tác động lan tỏa tới mọi ngành nghề của nền kinh tế. Và do vậy, khoảng cách thiết chế giữa Việt Nam và EU càng to sẽ mang tác động tiêu cực tới xuất khẩu hàng chế biến sang EU.

Rate this post

Bình luận