Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp trong chứng khoán và thị trường chứng khoán

Lúc một tư nhân tiến hành bỏ ra một lượng tài sản, của nả bằng tiền nhất định để tạo ra số lượng tài sản, của nả to hơn bằng tiền, với thể thực hiện dưới hai hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

Đầu tư trực tiếp

Là việc nhà đầu tư tiến hành bỏ vốn trực tiếp, sắm những tài sản thực là đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…để tổ chức sản xuất kinh doanh và tạo ra thu nhập là một lượng tài sản bằng tiền to hơn lượng vốn bỏ ra lúc ban sơ. Với hình thức này, nhà đầu tư là chủ sở hữu của doanh nghiệp với khả năng mở rộng và phát triển vốn đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tăng vốn của bản thân nhà đầu tư đó. Nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Hoạt động đầu tư trực tiếp cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp ko phải là đối tượng nghiên cứu chính của luận án, do vậy, chỉ được nêu ra để chúng ta phân biệt với đầu tư gián tiếp.

Đầu tư gián tiếp:

Là việc nhà đầu tư ko tiến hành bỏ vốn trực tiếp để tổ chức sản xuất kinh doanh, thay vào đó, là việc giao quyền sử dụng tài sản, của nả cho người khác tổ chức sản xuất kinh doanh bằng số tiền vốn đó, tạo ra thu nhập là khối lượng của nả vật chất to hơn, trong đó người bỏ vốn được lợi một phần trong số thu nhập từ việc sản xuất kinh doanh đó. Những xác nhận giao quyền sử dụng tài sản vật chất cho người khác để tổ chức sản xuất kinh doanh được biểu hiện ra là những văn bản, giấy tờ xác nhận nợ của người nhận tiền vốn với người sở hữu tiền vốn đó về quyền sở hữu và được quyền được phân chia một phần lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh, gọi là những tài sản tài chính hay là những dụng cụ nợ.

Thông qua quỹ đầu tư và những định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư ko trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Tương tự, đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư gián tiếp. Hoạt động đầu tư gián tiếp chia thành hai hình thức:

i) Nhà đầu tư trực tiếp đưa ra dụng cụ nợ mà biểu hiện cụ thể của nó là một chứng chỉ ghi nhận về việc nhà đầu tư cho thuê quyền sử dụng tiền vốn của mình cho người khác trong một thời kì nhất định, sau đó khoản vốn đó được thu hồi cùng với một khoản thu nhập do người đi thuê vốn trả và trong thời kì thu hồi nhà đầu tư vẫn xác lập quyền sở hữu của mình đối với số vốn đầu tư trên cơ sở vật chất những xác nhận nợ. Phần thu nhập tăng thêm sau lúc cho thuê vốn ko phụ thuộc vào kết quả của quá trình sử dụng vốn gọi là lợi suất hay lãi suất nhất quyết.

ii) Nhà đầu tư tham gia vào quá trình kinh doanh bằng việc bỏ vốn sở hữu những dụng cụ nợ do người trực tiếp đầu tư phát hành mà cho phép nhà đầu tư gián tiếp tham gia ko ấn định kỳ hạn, trừ lúc người tham gia đấu tư gián tiếp từ bỏ bằng cách bán lại quyền tham gia đó cho nhà đầu tư khác. Thu nhập của người sở hữu vốn đầu tư gián tiếp theo định kỳ và phụ thuộc vào kết quả quá trình sử dụng vốn gọi là lợi tức cổ phần hay cổ tức.

Rate this post

Bình luận