Nhóm các giải pháp bổ trợ nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập

Thực hiện điều chỉnh mức thu học phí đối với giáo dục măng non và giáo dục phổ thông theo quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ

Quy định mức thu học phí đối với những hạ tầng giáo dục măng non và phổ thông công lập trên khu vực tỉnh Thanh Hóa ban hành theo Quyết nghị số 41/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của HĐND tỉnh Thanh Hóa về quy định mức thu và sử dụng học phí trong những hạ tầng giáo dục, huấn luyện công lập trên khu vực tỉnh Thanh Hóa từ niên học 2016-2017 tới niên học 2020-2021 đã xác định cụ thể mức thu học phí đối với các đơn vị quản lý học măng non, THCS và THPT theo từng khu vực (thành phường, thị xã; đồng bằng; miền núi) và quy định từ niên học 2017-2018 mức thu học phí được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu sử dụng tăng bình quân hằng năm do Bộ Kế hoạch và đầu tư thông tin. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, việc điều chỉnh này ko kịp thời đã gây khó khăn cho những đơn vị trong tổ chức thực hiện.

Để đồng bộ với việc xác định định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL (điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu sử dụng tăng bình quân hằng năm do Bộ Kế hoạch và đầu tư thông tin, với tính tới khả năng thu của những đơn vị), cần thực hiện việc điều chỉnh mức thu học phí một cách kịp thời.

Khuyến khích xã hội hóa giáo dục để tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục, tăng mức độ khó khăn giữa những hạ tầng giáo dục trong cung ứng nhà sản xuất.

Khuyến khích xã hội hóa giáo dục thích hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục huấn luyện. Trong điều kiện nguồn lực NSĐP với hạn, khả năng đầu tư không liên quan được nhu cầu sử dụng nhà sản xuất giáo dục của người dân. Những hạ tầng GDCL không liên quan được nhu cầu của người dân, đặc thù là khu vực thành phường, thị xã, những khu vực đông dân cư khác. Chính vì vậy, khuyến khích xã hội hóa giáo dục góp phần tăng số lượng và chất lượng nhà sản xuất giáo dục cung ứng cho người dân. Đồng thời, xã hội hóa giáo dục góp phần tăng tính khó khăn trong cung ứng nhà sản xuất giáo dục của những hạ tầng giáo dục trên khu vực tỉnh (cả công lập và ngoài công lập). Từ đó, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của những trường công lập. Đây cũng là hạ tầng tạo điều kiện cho việc triển khai ứng dụng phân bổ ngân sách theo kết quả trong thực tiễn quản lý NSĐP đối với ngành giáo dục.

Hiện nay tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết nghị số 82/2017/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 về việc ban hành chính sách xã hội hóa giáo dục măng non tỉnh Thanh Hóa tới năm 2030 với những quy định cụ thể về đối tượng tương trợ, điều kiện tương trợ và nội dung tương trợ. Do đó, triển khai thực hiện tốt chính sách này sẽ góp phần giảm sức ép đầu tư từ NSĐP cho giáo dục măng non, tăng tính khó khăn trong cung ứng nhà sản xuất của những hạ tầng giáo dục măng non.

Tăng năng lực của hàng ngũ cán bộ quản lý tài chính tại cơ quan tài chính các đơn vị quản lý và ở những đơn vị dự toán ngành giáo dục

Năng lực của hàng ngũ cán bộ quyết định tới khả năng triển khai thực hiện QLNS theo kết quả. Đây là nhân tố tác động tới chất lượng công lập kế hoạch ngân sách, triển khai thực hiện và quyết toán ngân sách (cả ở những đơn vị dự toán và cơ quan tài chính, cơ quan quản lý ngành). Nhóm cán bộ quản lý tài chính ở những đơn vị dự toán với trình độ chuyên môn tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẽ với khả năng tham vấn xây dựng dự toán ngân sách của đơn vị mình gắn với những nhiệm vụ cụ thể của đơn vị và trần chi tiêu được thông tin theo thứ tự ưu tiên trong từng thời kỳ cụ thể. Đối với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý ngành, năng lực của hàng ngũ cán bộ quản lý tài chính ngành giáo dục góp phần tăng chất lượng tổng hợp dự toán, sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện những nhiệm vụ của ngành giáo dục một cách thích hợp để thực hiện mục tiêu trong trung hạn và trong năm dự toán.

Để tăng chất lượng tham vấn của hàng ngũ cán bộ làm mướn tác quản lý tài chính, cần thường xuyên tổ chức những đợt huấn luyện, bồi dưỡng ngắn hạn để cập nhật, hướng dẫn thực hiện xây dựng dự toán gắn với kế hoạch phát triển ngành; lập dự toán ngân sách trong trung hạn và những phương pháp giám định kết quả thực hiện đối với những đơn vị dự toán.

 Tăng cường công khai, sáng tỏ trong quản lý tài chính ở những đơn vị dự toán ngành giáo dục cũng như các đơn vị quản lý ngân sách địa phương

Việc công khai ngân sách ở các đơn vị quản lý NSĐP và những đơn vị dự toán trên khu vực tỉnh Thanh Hóa nói chung, những đơn vị dự toán ngành giáo dục nói riêng trong giai đoạn 2011-2017 đã dần đi vào nền nếp, góp phần tăng cường công việc rà soát nội bộ, sự giám sát của cấp trên với cấp dưới và phát huy vai trò giám sát của những đoàn thể, quần chúng nhân dân, người lao động, góp phần tăng hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng.

Người dân chưa tham gia một cách thực chất, với hiệu quả vào những trật tự này. Việc công khai ở các đơn vị quản lý ngân sách và đơn vị dự toán, đặc thù là cấp thị xã, xã và những đơn vị dự toán cấp thị xã còn mang tính hình thức, chưa đúng quy định của pháp luật về công khai NSNN. Hầu hết những đơn vị chỉ thực hiện công khai tại hội nghị cán bộ người lao động viên chức, chưa thực hiện nghiêm túc hình thức niêm yết công khai tại trụ sở. Việc công khai ko thực hiện đúng thời kì quy định, nhất là những khoản dự toán bổ sung trong năm. Thêm vào đó việc công khai chỉ giới hạn lại ở công khai số liệu chi tiêu ngân sách theo dự toán, ko kèm theo những thuyết minh cụ thể liên quan tới từng hoạt động trong năm ngân sách.

Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015 (Luật Ngân sách nhà nước năm 2015), với hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan yếu với mục tiêu là tăng tính sáng tỏ, dân chủ và công khai trong công việc quản lý NSNN; kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi ngân sách; tăng kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính – NSNN bảo đảm thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí,… Theo đó, những quy định về công khai sáng tỏ ngân sách đã với những sửa đổi, bổ sung rõ ràng, sáng tỏ hơn về đối tượng công khai; nội dung công khai; thời kì công khai và giám sát NSNN của cùng đồng.

Tương tự, quy định của Luật NSNN 2015 về công khai ngân sách đã rất rõ ràng, cụ thể, đòi hỏi những đơn vị dự toán nói chung, những đơn vị dự toán ngành giáo dục nói riêng thực hiện nghiêm quy định của Luật, tránh tình trạng công khai mang tính hình thức như hiện nay. Từ đó, góp phần chỉnh đốn hoạt động quản lý tài chính tại những đơn vị, tăng hiệu quả chi NSĐP cho GDCL.

Rate this post

Bình luận