Tăng cường nguồn lực tài chính từ tín dụng

Đối với tài chính vay của CQĐP

Luật NSNN số 83/2015/QH11 cho phép chính quyền cấp tỉnh được huy động vốn vay để phát triển KT-XH địa phương. Đây là một giải pháp mở cho những địa phương trong việc khắc phục bài toán về NLTC cho đầu tư phát triển KT-XH nói chung và XDNTM nói riêng, góp phần tăng tính chủ động, trách nhiệm địa phương, làm giảm sức ép nợ cho Chính phủ. Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh mang thể thực hiện vay vốn cho XDNTM thông qua Nhà băng Phát triển Việt Nam hoặc từng bước thí điểm phát hành trái phiếu CQĐP. Những khoản vay này sẽ tạo ra nghĩa vụ nợ cho chính quyền Tỉnh, do đó, Tỉnh phải thực hiện quản lý tốt vấn đề vay nợ từ việc xây dựng đề án vay vốn, rà soát giám sát sử dụng vốn vay, công khai nợ vay theo đúng Luật Quản lý nợ công. Một số lưu ý trong quản lý những khoản nợ vay của Tỉnh như sau:

Thứ nhất, UBND Tỉnh xây dựng đề án vay vốn cho những dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật. Việc phân bổ NLTC từ tài chính vay của Tỉnh cho những nhu cầu đầu tư phải gắn với thứ tự ưu tiên đã được xác lập trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn. Kế hoạch tài chính 5 năm, và Kế hoạch tài chính, NS 3 năm đã được HĐND Tỉnh phê duyệt.

Thứ hai, xác định tổng mức dư nợ vay trên cơ sở vật chất số thu NSĐP được phân cấp, số chi thường xuyên của NSĐP trần vay nợ theo quy định. Đề án vay vốn phải trình HĐND Tỉnh phê duyệt và được BTC chấp thuận bằng văn bản.

Thứ ba, “rà soát, đôn đốc việc sử dụng những khoản vốn vay. Những khoản vay để đầu tư những dự án thuộc nhiệm vụ chi của NSĐP phải được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật NSNN. Những dự án sử dụng vốn vay của Tỉnh phải được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc kiểm toán độc lập.

Thứ tư, chủ động sắp đặt trong cân đối ngân sách Tỉnh, nguồn thu hồi từ những dự án đầu tư của địa phương đề bảo đảm trả hết nợ lúc tới hạn. UBND Tỉnh trả tiền đầy đủ, đúng hạn những khoản gốc, lãi, phí và mức giá khác mang liên quan phát sinh từ việc vay của Tỉnh”[36].

Đối với tín dụng mang nguồn gốc ODA

Theo quy định hiện hành, CQĐP ít mang điều kiện xúc tiếp với những nhà tài trợ nước ngoài. CQĐP được tiếp nhận nguồn ODA thông qua phân bổ của Trung ương trên cơ sở vật chất danh mục dự án đề nghị của địa phương. Do đó, trong thời kì tới để mang thể huy động được tài chính ODA cho những mục tiêu XDNTM, cần thực hiện những giải pháp sau:

Thứ nhất, cần xây dựng một ban quản lý dự án nhiều năm kinh nghiệm với nhóm cán bộ mang trình độ và kinh nghiệm làm việc, nắm chắc những chính sách quản lý ODA. Đồng thời, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ mang liên quan thuộc những cơ quan của tỉnh liên quan tới hoạt động thu hút đầu tư và quản lý dự án ODA như Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính, Sở công thương nghiệp, Sở NN và phát triển NT.

Thứ hai, cần đảm bảo kịp thời vốn đối ứng cho những chương trình và dự án ODA để đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất và nhanh nhất.

Thứ ba, cần rà soát lại hệ thống văn bản, chính sách liên quan tới huy động và sử dụng tài chính ODA. Trên cơ sở vật chất đó, hoàn thành hệ thống những văn bản pháp lý, đổi mới trong thứ tự và thủ tục quản lý dự án ODA. Đồng thời, tăng cường rà soát, giám sát trong toàn bộ quá trình huy động và sử dụng tài chính ODA nhằm phòng chống tham nhũng.

Đối với tín dụng nhà băng

Thứ nhất, đẩy mạnh triển khai việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển NN, NT của Chính phủ, trước hết là tăng vai trò của những NHTM to.

Thứ hai, hoàn thiện những thủ tục cấp giấy chứng thực quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), giao đất ổn định trong tương lai cho những hộ sản xuất để người dân mang đủ tài sản đảm bảo thế chấp nhà băng. Đây là một trong những rào cản trong việc tiếp cận vốn tín dụng của những hộ sản xuất NN hiện nay. Đồng thời, Chính quyền các ngành tuyên truyền rộng rãi về việc cấp GCNQSDĐ đối với những nông hộ trên khu vực, tránh tình trạng gian lận lúc làm thủ tục, giấy tờ đồng thời tránh sắm bán đất đai trong những khu vực quy hoạch NN. Đề nghị bỏ điều kiện giữ GCNQSDĐ đối với những khoản vay tín chấp, tạo điều kiện cho những hộ mang khả năng tiếp cận những khoản vốn phát sinh tại nhà băng khác.

Thứ ba, tăng khả năng hạch toán và quản lý trong sản xuất NN cho chủ hộ SXKD ở nông thôn. Để tăng khả năng hạch toán và quản lý cho chủ hộ sản xuất cần tổ chức tập huấn về những tri thức về quản trị kinh doanh cơ bản. Những hộ sản xuất NN phải xác định được nhu cầu vốn sản xuất của gia đình trên cơ sở vật chất đó để tính khoản tiền cần vay. Sở hữu phương án hoạt động SXKD rõ ràng và cụ thể, cũng như kế hoạch trả nợ trong tương lai của gia đình. Những khoản đầu tư cho sản xuất NN mang vay vốn tín dụng phải được quản lý khoa học, chặt chẽ, nghiêm túc để hạn chế những trường hợp sử dụng sai mục đích, gây ra tình trạng thiếu vốn cho sản xuất, tác động tới nguồn thu nhập chủ yếu của những hộ gia đình và cũng là nguồn thu hồi nợ của nhà băng. Mặt khác, cần mang sự tham gia liên kết trong sản xuất. Bài học kinh nghiệm cho thấy, trong sản xuất NN cần mang sự liên kết giữa hộ sản xuất, nhà khoa học và DN. Trên thực tế tại tỉnh Hà Tĩnh, những nông hộ chủ yếu tự làm tự ăn, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất của mình, do đó lúc mang tình trạng rớt giá, hạn hán, thất bát thì người dân vẫn là người chịu thiệt thòi nhất. Việc sớm hình thành những mô phỏng HTX kiểu mới với mô phỏng sản xuất to với sự tham gia của 3 nhà (nhà sản xuất, nhà DN và nhà khoa học) cần được tiếp tục triển khai thực hiện.

Thứ tư, đối với chính sách đảm bảo tiền vay, do đặc thù của những ngành NN tiềm tàng nhiều rủi ro đặc trưng là ngành khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ nên hiện nay, những NHTM thường yêu cầu ngư gia, DN bổ sung tài sản đảm bảo ngoài tài sản thế chấp là tàu cá hình thành từ vốn vay. Chính sách này đã khiến cho ngư gia khó tiếp cận vốn vay NHTM. Do vậy cần xây dựng chính sách đặc thù để NHTM mạnh dạn cho vay với tài sản thế chấp chỉ là tàu cá hình thành từ vốn vay, từ đó ngư gia mang thể mạnh dạn đầu tư những con tàu to, đảm bảo về kỹ thuật và thiết kế.

Đồng  thời, cần thuần tuý hóa thủ tục để nông dân trong những tổ nhóm mang bảo lãnh trực tiếp mở tài khoản nhận vốn vay, trả tiền gốc và lãi, gửi tiền tại nhà băng.

Thứ năm, cần mang sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở NN&PTNT, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính…với những NHTM trên khu vực tỉnh. Mục đích để ký kết những chương trình liên tịch về đầu tư vốn tín dụng phục vụ XDNTM. Trong đó, ưu tiên cho vay vốn đầu tư đối với những dự án thuộc ngành NN như những dự án tái cơ cấu sản xuất NN, chuyển đổi sản xuất NN kỹ thuật cao, những dự án ứng dụng kỹ thuật tiên tiến bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, những dự án đổi mới kỹ thuật chế biến nông sản, những dự án nuôi trồng thủy sản theo hình thức công nghiệp mang quy mô to, những mô phỏng liên kết theo chuỗi GTGT, mô phỏng ứng dụng kỹ thuật cao trong sản xuất NN và mô phỏng liên kết chuỗi sản xuất sản phẩm NN xuất khẩu và những dự án thuộc ngành du lịch, nhà sản xuất phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, mức độ can thiệp của chính quyền trong những hoạt động tín dụng chỉ ngừng lại ở mức độ tương trợ thông tin, điều tiết… và phải tuân thủ theo quy luật thị trường.

Thứ sáu, cần mang sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả và thường xuyên giữa 4 bên, gồm: Những nông dân, hiệp hội ngành nghề; những bộ, ngành; CQĐP, những NHTM và doanh nghiệp bảo hiểm. Các đối tác cần mang sự trao đổi, san sớt thông tin, hợp tác và thống nhất với nhau trong thực hiện công việc. Nếu sự phối hợp này ko được thực hiện tốt, mang thể dẫn tới tình trạng mang khoảng cách ko nhỏ giữa những tiêu chuẩn cho  vay của những nhà băng và tiêu chí xét duyệt của những cơ quan nhà nước. Điều này sẽ khiến cho những NHTM mất thêm thời kì để thẩm định lại hồ sơ vay của người dân, từ đó thời kì đồng vốn tới được tay người dân sẽ bị kéo dài.

Thứ bảy, tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống những TCTD trên khu vực tỉnh, nhất là phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và những tổ chức tín dụng NT. Kinh nghiệm của Trung Hoa cho thấy, mối quan hệ xóm làng, những thành viên trong những hiệp hội, tổ chức chính trị xã hội tạo thành sức mạnh cùng đồng, giúp khách hàng của tổ chức tín dụng NT phát triển kinh tế, tăng đời sống. Sức mạnh này cũng trở thành sức ép để khách hàng thực hiện những điều khoản đối với QTDND, giảm mức giá giao dịch cho cả tổ chức và khách hàng. Sự tương trợ đắc lực của CQĐP và những cơ quan, đơn vị là yếu tố vô cùng quan yếu tạo điều kiện cho QTDND hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả. Những cơ quan này cũng cần nhìn nhận tầm quan yếu của QTDND trong địa bàn hoạt động của mình đối với sự phát triển KT-XH địa phương. Kinh nghiệm từ những QTDND thành công cho thấy, mối quan hệ tương trợ lẫn nhau giữa QTDND và những CQĐP cần được củng cố thông qua chính sách hợp tác rõ ràng, hai bên cùng mang lợi và vì mục tiêu chung là phát triển cùng đồng.

Thứ tám, cần mang chính sách để những TCTD cho cùng đồng nhân dân mỗi thôn vay vốn từ nhà băng để đầu tư CSHT trong một thời kì nhất định, NSNN tương trợ lãi suất, mang UBND xã làm đại diện, mang phương án đầu tư chi tiết và cam kết của Ban phát triển thôn (trong đó mang chữ ký của toàn bộ những hộ gia đình trong thôn). Lý do của việc này là do xây dựng NTM đặt mục tiêu to nhưng đòi hỏi thời hạn hoàn thành sớm. Việc huy động sức dân nhiều trong một thời kì ngắn khó thực hiện được. Để mang dự án trước hết phải mang vốn đầu tư, nhân dân sẽ thống nhất phương án đóng góp hàng năm để đủ số vốn trả tiền với nhà băng.

Thứ chín, củng cố và tăng vai trò của Quỹ Đầu tư Phát triển Địa phương. Quỹ Đầu tư Phát triển Địa phương là tổ chức tín dụng đặc trưng được thành lập ở cấp tỉnh, vận hành như những đơn vị thương nghiệp, huy động vốn trung và dài hạn từ khu vực tư nhân và đầu tư vào những dự án phát triển hạ tầng địa phương.

Rate this post

Bình luận