Các yếu tố cản trở/hấp dẫn: Khoảng cách địa lý, khoảng cách công nghệ, khoảng cách thể chiết

Khoảng cách về mặt địa lý giữa tất cả quốc gia sở hữu tác động đáng kể tới thương nghiệp giữa tất cả quốc gia đó bởi lẽ khoảng cách ko chỉ th ể hiện giá thành vận chuyển mà còn những giá thành giao dịch chung của thương nghiệp (Eicher và những cùng sự, 2012). Thứ nhất, giá thành vận chuyể n là yếu tố quan yếu của thương nghiệp, đây là biến cơ bản của mô phỏng lực quyến rũ. Những nước ở càng xa nhau, giá thành vận chuyển giữa chúng là càng to nên thương nghiệp giữa những nước này thường ít hơn (Eita, 2008; Orindi, 2011).

Khoảng cách địa lý sở hữu liên quan mật thiết với giá thành vận chuyển, gây tác động xấu tới lưu thông thương nghiệp (Rault và cùng sự, 2008). Thứ hai, những nước sở hữu khoảng cách địa lý xa nhau thì giá thành giao dịch giữa tất cả quốc gia này thường cao hơn. Mức giá giao dịch liên quan tới những giá thành về chuẩn bị, thực thi hợp đồng,… và những đối tác thương nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn bởi lẽ họ ít hiểu biết về tập quán kinh doanh của nhau (do khoảng cách địa lý giữa họ). Trên thực tế, khoảng cách về mặt địa lý giữa tất cả quốc gia được khẳng định sở hữu tác động tiêu cực tới luồng thương nghiệp giữa tất cả quốc gia vì nền văn hoá của những nước này thường sở hữu sự khác biệt (Brakman, Garretsen, & Marrewijk, 2006). Thứ ba, khoảng cách về mặt địa lý cũng tạo ra giá thành liên quan tới liên lạc, tiếng nói và thông tin về yếu tố thiết chế, pháp lý (Bevan và Estrin, 2004). Phần to giá thành là do vận chuyển hàng hoá từ nhà máy tới tàu liên quan tới chất lượng cơ sở vật chất hạ tầng vật chất trong nước (Limao và Venables, 1999), thời kì chậm trễ do thủ tục hành chính tại cảng (Hausman và cùng sự, 2005), chất lượng của cơ sở vật chất hạ tầng cảng và thông tin về tín dụng (Hernadez và Taningco, 2010). Tất cả quốc gia nghèo thường sở hữu những rào cản về tiếng nói, văn hoá và chính trị với những đối tác thương nghiệp to hơn so với những nước giàu sở hữu hơn (Demirkan và cùng sự, 2009). Khoảng cách xa xôi về mặt địa lý càng làm tăng thêm giá thành thương nghiệp, từ đó giảm mức độ thương nghiệp quốc tế (Battersby và Ewing, 2005, Tansey và Touray, 2010). Trong nghiên cứu này, khoảng cách về mặt địa lý giữa hai quốc gia được giả thiết là sở hữu mối quan hệ ngược chiều với trao đổi thương nghiệp giữa hai quốc gia đó.

Khoảng cách kỹ thuật

Những dự đoán về mặt lý thuyết cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa thương nghiệp và khoảng cách (Stone và Lee, 1995), khoảng cách sở hữu thể được xem xét về sự khác biệt địa lý, văn hoá, tiếng nói, biên giới (Rauch, 1999, Eichengreen and Irwin, 1998) và kỹ thuật.

Khoảng cách kỹ thuật thường được coi là một rào cản đối với thương nghiệp. Những nước sở hữu xu hướng trao đổi nhiều hơn lúc họ sở hữu quan niệm kỹ thuật sắp giống nhau, khoảng cách kỹ thuật giữa hai nước càng to thì những nước càng ít thương nghiệp với nhau (Filippini & Molini, 2003). Tuy nhiên, khoảng cách kỹ thuật cũng sở hữu thể trở thành động lực cho thương nghiệp. Bởi lẽ, khoảng cách kỹ thuật sở hữu thể dẫn tới khuyến khích nhập khẩu những sản phẩm kỹ thuật cao để sao chép kỹ thuật, tái tạo nó với mức giá thành thấp hơn và chuyển ra bên ngoài giới hạn khả năng sản xuất trong việc bắt kịp mẫu hàng hoá (Bell & Pavitt, 1997). Mặc dù vậy, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng bắt chước kỹ thuật của quốc gia.
Trong đề tài này, khoảng cách về kỹ thuật được giả thiết là sở hữu tác động tiêu cực tới thương nghiệp.

Khoảng cách thiết chế

Môi trường thiết chế được xác định bởi những phạm vi hành chính và pháp lý mà trong đó những tư nhân, doanh nghiệp và chính phủ sở hữu tác động lẫn nhau để tạo nên sự giàu sở hữu của một quốc gia. Chất lượng thiết chế của một quốc gia cũng như sự khác biệt về chất lượng thiết chế giữa tất cả quốc gia sở hữu thể được giám định thông qua những chỉ số về chất lượng quản trị của Kaufmann và cùng sự (2003). Sáu khía cạnh của chất lượng quản trị cơ sở vật chất hạ tầng ở tất cả quốc gia bao gồm:

– Tiếng nói và trách nhiệm giải trình: Phản ánh mức độ mà công dân của một quốc gia sở hữu the tham gia vào việc lựa chọn chính phủ, cũng như mức độ mà những chính phủ này được giám sát và chịu trách nhiệm về hành động của họ.

– Sự ổn định chính trị: Thể hiện sự ổn định môi trường chính trị của một quốc gia. Đo lường những quan niệm chính trị khác nhau trong một quốc gia và mức độ mà những nhóm khủng bố hoặc những nhóm khác sở hữu quan niệm chính trị triệt để sở hữu thể tác động tới sự ổn định của một quốc gia.

– Hiệu quả chính phủ : Phản ánh chất lượng của chính phủ cũng như khả năng xây dựng và thực hiện những chính sách và cung ứng hàng hóa công.

Chất lượng quy định: Đo lường chất lượng những chính sách của chính phủ, mức độ điều chỉnh và phản ứng của nó đối với những chính sách ko thân thiện thị trường.

– Pháp quyền: Phản ánh niềm tin của công dân vào pháp luật và những quy tắc xã hội cũng như chất lượng của hệ thống pháp luật và khả năng thực thi hợp đồng.

– Kiểm soát tham nhũng: Phản ánh mức độ mà quyền lực công cùng được thực hiện với mục đích tư nhân.

Những yếu tố thiết chế cũng tác động tới dòng chảy thương nghiệp quốc tế (Kostova. 1997. Abasimi và cùng sự, 2018). Chất lượng the chế của một quốc gia quyết định mức độ an toàn trong thương nghiệp. Hiệu quả của hệ thống pháp luật và quy định của một quốc gia sở hữu tác động tới sự tin tưởng lẫn nhau giữa các đối tác và phương thức kinh doanh. Việc thực thi quyền sở hữu và tuân thủ những hợp đồng thương nghiệp với những nhà xuất khẩu nước ngoài khác nhau giữa những nước (Zhang và cùng sự, 2003). Sự ko vững chắc về môi trường kinh doanh sở hữu the dẫn tới tranh chấp giữa những đối tác thương nghiệp (Skarmeas và cùng sự, 2002).

Việc thi hành những hợp đồng thương nghiệp ở quốc tế khó khăn hơn nhiều so với trong nước do những giao dịch quốc tế nằm ngoài phạm vi của một quốc gia (Rodrik. 2000). The chế kém phát tri en gia tăng tác động tiêu cực đối với những giao dịch tư nhân, làm tăng giá thành giao dịch và giảm thương nghiệp quốc tế (Wei, 2000). Nếu hệ thống pháp luật chặt chẽ và những quy định của chính phủ sáng tỏ và công bằng thì những nước tham gia trao đổi thương nghiệp nhiều hơn (Jansen và Kyvik Nordas, 2004). Hệ thống thiết chế yếu kém sẽ dẫn tới môi trường kinh doanh hoạt động kém hiệu quả. Chất lượng thiết chế càng tốt thì kim ngạch thương nghiệp sẽ càng to (Levchenko, 2004). Do đó, về lý thuyết, chất lượng thiết chế của tất cả quốc gia tốt sở hữu tác động tích cực tới kim ngạch thương nghiệp giữa chúng.

Thêm vào đó, sự khác biệt về chất lượng thiết chế giữa tất cả quốc gia cũng sở hữu thể tác động tới giá thành thương nghiệp bởi phải gánh chịu giá thành điều chỉnh to phát sinh liên quan tới giao dịch bất trắc trong thương nghiệp. Tất cả quốc gia sở hữu chất lượng thiết chế tương đương nhau thường trao đổi thương nghiệp nhiều hơn (De Groot và cùng sự, 2004). Trong đề tài này, khoảng cách về thiết chế giữa tất cả quốc gia được giả thiết sở hữu tác động tiêu cực tới thương nghiệp music phương.

Rate this post

Bình luận