Về chính sách thúc đẩy đầu tư chứng khoán

Để ổn định và phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, Chính phủ đã xây dựng và ban hành những chính sách vĩ mô sở hữu tác động tích cực hoặc tiêu cực tới thị trường chứng khoán. Chính sách xúc tiến đầu tư chứng khoán thời kì qua còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Cụ thể:

– Những chính sách về khuyến khích thu hút đối với nhà đầu tư chứng khoán chưa đủ sức lôi cuốn, thiếu sự tuyên truyền hiểu biết về hoạt động đầu tư chứng khoán: i) Số lượng những nhà đầu tư mặc dù tăng hàng năm nhưng tốc độ ko cao và con số này quá khiêm tốn so với tiềm năng. Số lượng tài khoản của nhà đầu tư trong nước mở mới to, gia tăng nhưng số lượng những tài khoản sở hữu hoạt động giao dịch ko nhiều. ii) Nhà đầu tư tổ chức còn thiếu phổ thông, chủ yếu những quỹ sở hữu vốn đầu tư nước ngoài mà chưa huy động hiệu quả được nguồn lực trong nước, những sản phẩm huy động vốn của những quỹ còn khá đơn thuần, chưa quyến rũ được những nhà đầu tư tham gia; những loại hình đầu tư sở hữu tổ chức còn đơn điệu, chưa sở hữu sự tham gia của những quỹ bảo hiểm, hữu trí, nơi sở hữu thể huy động một lượng vốn đáng kể cho thị trường chứng khoán. iii) Nhà đầu tư tổ chức chưa thể hiện vai trò định hướng thị trường. Điều này thể hiện lúc thị trường đi xuống hay sở hữu những biến động bất ổn, những tổ chức đầu tư chưa thể hiện rõ nét vai trò và khả năng định hướng thị trường.

– Chính sách đối với những tổ chức phát hành chứng khoán chưa thật sự hiệu quả, thiếu cơ chế chính sách khuyến khích phát hành niêm yết chứng khoán: để đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các đối tác tham gia trên thị trường chứng khoán và TTCK trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan yếu cho nền kinh tế thì Quốc hội đã thông qua Luật chứng khoán năm 2006, sửa đổi năm 2010, sẽ tiếp tục sửa đổi 2018 và Chính phủ, những Bộ sở hữu liên quan đã ban hành những quy định về chào bán chứng khoán, niêm yết chứng khoán, hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, Chính phủ thực hiện tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2011-2020 nên số lượng tổ chức phát hành chứng khoán, hàng hóa trên thị trường ngày càng tăng. Tuy nhiên, số cổ phiếu phát hành, trị giá phát hành là con số khiêm tốn so với tiềm năng. Nhiều tổ chức phát hành chứng khoán chưa thực hiện tốt những quy định về hoạt động niêm yết chứng khoán, công bố thông tin chứng khoán, chào bán chứng khoán gây tác động tới hoạt động của thị trường, tới những nhà đầu tư chứng khoán. Những chính sách thực hiện chưa hiệu quả, thiếu sự rà soát giám sát, việc xử lý những sai phép với những tổ chức chứng khoán chưa đủ mạnh, chưa sở hữu cơ chế khuyến khích đối với những tổ chức phát hành chứng khoán niêm yết chứng khoán.

– Chính sách đối với những tổ chức chứng khoán, trung gian chứng khoán chưa thực sự hiệu quả, sự rà soát giám sát chưa chặt chẽ, thiếu những chính sách tương trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho những tổ chức chứng khoán hoạt động: Để thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả, là kênh huy động vốn Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách như quy định về hành nghề kinh doanh chứng khoán, về điều kiện kinh doanh chứng khoán, hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro; xây dựng đề án tái cấu trúc TTCK; quy định tiêu chí an toàn tài chính. Số liệu cho thấy số lượng những tổ chức chứng khoán giảm dần, năm 2012 là 105 tổ chức và tới cuối quý I/2018 còn 74 tổ chức chứng khoán, trong lúc kết quả hoạt động của những tổ chức chứng khoán tăng dần và sở hữu lãi, lợi nhuận trước thuế của những tổ chức này đạt hơn 7.000 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 2016 và tiếp tục tăng năm 2018. Những chính sách về quản lý hoạt động những tổ chức chứng khoán đã ban hành nhưng thực thi chưa thực sự quyết liệt, công việc giám sát hoạt động của những tổ chức chứng khoán chưa thường xuyên liên tục; việc xử lý những tổ chức vi phạm chưa đủ mạnh; thiếu những chính sách tương trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho những tổ chức chứng khoán hoạt động. Cuối năm 2017 mặc dù việc quản lý hoạt động của những tổ chức chứng khoán, tổ chức quản lý quỹ được xúc tiến nhưng vẫn còn tồn tại những tổ chức yếu kém hoạt động ko hiệu quả, vẫn còn 50% số lượng tổ chức sở hữu lỗ lũy kế, trong đó vẫn còn những tổ chức sở hữu lỗ lũy kế trên vốn điều lệ hơn 50% và đa phần những tổ chức chứng khoán vẫn đang tiếp tục khắc phục những khoản thua lỗ những năm trước đây.

– Công việc rà soát, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên liên tục, những quy định về xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe; Hoạt động tuyên truyền về những quy định và hình thức xử lý vi phạm còn yếu, thiếu công khai những trường hợp vi phạm bị xử lý trên phương tiện đại chúng. Thực tế cho thấy mặc dù nhà nước đã sở hữu những quy định xử lý những trường hợp vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh chứng khoán đối với tư nhân, tổ chức, tổ chức phát hành, tổ chức chứng khoán nhưng số những trường hợp vi phạm ngày càng tăng nhưng những hành vi vi phạm ngày càng tinh vi dưới nhiều hình thức.

– Sự thích hợp của hệ thống cơ chế chính sách đối với đầu tư chứng khoán: Luật chứng khoán được ban hành và sở hữu hiệu lực từ năm 2006 đã mở ra giai đoạn phát triển mới cho thị trường chứng khoán Việt Nam, và tiếp đó đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2010 (Luật số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010) và năm 2013 (Luật số 27/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013) về việc thống nhất luật chứng khoán. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà hoàn thiện và cùng sự phát triển ko ngừng của nền kinh tế, đòi hỏi Luật chứng khoán cần được tiếp tục bổ sung, sửa đổi, đáp ứng nhu cầu của quy luật kinh tế thị trường. Cụ thể như việc thống nhất giữa Luật doanh nghiệp và Luật chứng khoán, chứng khoán phái sinh; những quy định về vấn đề phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá, phổ thông những hình thức niêm yết, phổ thông hóa những loại hình tổ chức, tư nhân tham gia thị trường chứng khoán….

Rate this post

Bình luận