Ý nghĩa kinh tế, tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ lương thực

Cây lương thực chính là những cây với hạt, với tác dụng nuôi sống con   người và gia súc, ở nước ta cây lương thực chính gồm: lúa, ngô, đậu, đỗ trong

đó lúa là cây lương thực quan yếu nhất.

Sản xuất lương thực là ngành chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, điều quan yếu hàng đầu đảm bảo sự hìng cường về mặt kinh tế của quốc gia. Những nhà kinh tế đều với ý kiến thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là phải tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân, bằng việc phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực, điều đó tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Vì vậy phát triển mạnh sản xuất lương thực, khắc phục tốt vấn đề lương thực với ý nghĩa kinh tế to to đối với nền kinh tế cũng như đối với nông nghiệp.

Lương thực là phòng ban chủ yếu cấu thành trong nguồn thức ăn hàng ngày của con người. Nó thoả mãn nhu cầu về năng lượng cho thân thể con người với giá rẻ. Nó là loại sản phẩm thiết yếu của đời sống con người và ko thể thay thế được.

Sản xuất lương thực là hạ tầng của sản xuất nông nghiệp và những ngành kinh tế quốc dân khác. Tốc độ phát triển và quan hệ tỷ lệ giữa những ngành sản xuất vật chất trong đó với nông nghiệp, trong chừng mực nhất định phụ thuộc vào sự phát triển và năng suất lao động của ngành sản xuất lương thực.

Khắc phục vấn đề lương thực với tác dụng to to đối với sự nghiệp công nghiệp hoá quốc gia. Nó phân phối lương thực cho dân cư phi nông nghiệp và vật liệu quan yếu cho công nghiệp chế biến.

Phát triển sản xuất lương thực với ý nghĩa to to đối với việc củng cố về tăng cường khả năng quốc phòng, tăng nguồn dự trữ quốc gia để phòng chống thiên tai.

Trong quá trình tổ chức sản xuất lương thực cần chú ý những đặc điểm sau đây:

Cây lương thực với vị trí quan yếu, vì thế nhiều nước trên toàn cầu rất coi trọng phát triển cây lương thực, tìm những giải pháp để tăng nhanh năng suất ruộng rẫy, năng suất lao động trong khu vực sản xuất lương thực, nhằm phóng thích từng phần diện tích và sức lao động ra khỏi khu vực sản xuất lương thực. ở nước ta tới năm 2000, diện tích cây lương thực còn chiếm trên 67,11% tổng diện tích gieo trồng và chiếm tỷ lệ đáng kể lao động xã hội của nông nghiệp. Vì vậy việc tăng năng suất ruộng rẫy, năng suất lao động trong ngành sản xuất lương thực là vấn đề cấp bách và với ý nghĩa to to đối với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Lương thực là nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày của nhân dân, vì thế việc phát triển sản xuất lương thực để tăng tiêu chí sản lượng lương thực và mức lương thực bình quân đầu người với ý nghĩa đặc thù quan yếu. Sản xuất lương thực ở nước ta ngoài lúa và ngô còn với đậu đỗ những loại cũng là cây lương thực quan yếu.

Lương thực là nhu cầu hàng ngày của nhân dân, điều kiện sản xuất ko khó tính cho nên ngoài những vùng sản xuất chuyên môn hoá to, những địa phương cần xếp đặt sản xuất ruộng rãi nhằm tận dụng đất đai, tiết kiệm giá bán vận chuyển đáp ứng nhu cầu tại chỗ.

Từ lâu ở nước ta lương thực vẫn là ngành sản xuất chính của nông nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

Trước cách mệnh tháng tám, đặc trưng vượt bậc của sản xuất lương thực nước ta là độc canh sản xuất lúa nước, trình độ kỹ thuật rất thô sơ, năng suất lúa rất thấp 10-13 tạ/ha, diện tích trồng lúa chiếm tới 90% tổng diện tích gieo trồng.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng và Nhà nước với quyết tâm to xúc tiến sản xuất lương thực phát triển đáp ứng nhu cầu kháng thắng lợi lợi.

Từ lúc phóng thích miền Nam thống nhất quốc gia, do kéo dài cơ chế kinh tế thời chiến và tư tưởng tự cung tự cấp, sản xuất nông nghiệp noi chung và sản xuất lương thực nói riêng gặp nhiều khó khăn. Thời kỳ 1976-1980 nước ta phải nhập 5,6 triệu tấn lương thực qui gạo, bình quân mỗi năm nhập 1,1 triệu tấn.

Thời kỳ đổi mới kinh tế, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc, trong đó nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to to, vượt bậc là khắc phục được vấn đề lương thực. Cho tới hiện tại, sau 15 năm đổi mới nông nghiệp nước ta đã khắc phục vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo to thứ hai toàn cầu. Trong hai năm liền 1998,1999 mỗi năm xuất khẩu gạo với kim ngạch trên 1 tỷ USD.

Trong lương thực sản xuất lúa tăng nhanh cả về diện tích và sản lượng. Nếu năm 1990 diện tích lúa là 6,027 triệu ha thì năm 2000 tăng lên 7,549 triệu ha do khai phá và tăng vụ. Sản lượng lúa tăng từ 19,2 triệu tấn, năm 1990 lên 32,55 triệu tấn năm 2000 và đang với xu hướng tăng, đó là do diện tích và năng suất lúa đều tăng mà đặc thù là năng suất lúa tăng từ 32 tạ/ha năm 1990 lên 42,5 tạ/ha năm 2000.

Việc sản xuất màu lương thực với chiều hướng tăng chậm cả về diện tích và sản lượng. Năm 1990 diện tích ngô là 0,431 triệu ha lên 0,714 triệu ha năm 2000, về sản lượng từ 0,671 triệu tấn năm 1990 lên 1,90 triệu tấn năm 2000.

Công việc chế biến lương thực ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc chế biến màu còn nhiều hạn chế, chất lượng kém, chủng loại nghèo nàn v.v… Việc chế biến gạo đã với nhiều tiến bộ, tuy nhiên so với yêu cầu chế biến tăng chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ gạo gẫy 10%, 15% tấm và 25% tấm còn chiếm tỷ lệ cao. Năm 1999 tỷ lệ gạo 25% tấm còn chiếm 35% và tỷ lệ thóc lẫn trong gạo còn cao, tác động tới chất lượng gạo nhất là gạo xuất khẩu.

Rate this post

Bình luận