Nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập

Chấp hành dự toán là giai đoạn giai đoạn biến những mục tiêu trong dự toán thành hiện thực và kết quả của giai đoạn chấp hành dự toán cũng tác động tới chất lượng công việc quyết toán sau này. Trong giai đoạn chấp hành nếu dự toán NSĐP được quản lý đảm bảo nguồn lực cho những nhiệm vụ chi đã được xây dựng sẽ góp phần thực hiện được những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Để tăng chất lượng tổ chức thực hiện dự toán chi NSĐP cho GDCL cần thực hiện những giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục ưu tiên sắp đặt nguồn lực từ NSĐP cho phát triển giáo dục đồng thời phân bổ nguồn kinh phí NSĐP (cả chi đầu tư và chi thường xuyên) cho các ngành ngân sách tương ứng với nhiệm vụ chi được giao như đã phân tích ở giải pháp 3.2.1.1.

Thứ hai, thay đổi cơ chế giao dự toán kinh phí NSĐP cho GDCL.

Hiện nay, cơ quan tài chính các ngành tỉnh Thanh Hóa đang trực tiếp giao dự toán kinh phí cho những đơn vị SNCL ngành giáo dục dẫn tới tình trạng cơ quan tài chính can thiệp quá chi tiết vào hoạt động của ngành, khối lượng công việc quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán tập trung ở cơ quan tài chính quá to làm tác động tới chất lượng xây dựng dự toán; chất lượng giám sát chấp hành và quyết toán NSNN. Chính vì vậy, cần mang sự điều chỉnh thích hợp với chức năng, nhiệm vụ của những cơ quan, đơn vị để tăng hiệu quả quản lý chi NSĐP cho GDCL. Cụ thể:

– Đối với dự toán kinh phí của những trường THPT: Sở Tài chính giao dự toán kinh phí cho Sở GD&ĐT để thực hiện phân bổ, giao dự toán cho những đơn vị.

– Đối với những trường măng non, tiểu học, THCS: phòng tài chính kế hoạch những quận, thị xã, thành phường giao dự toán cho phòng GD&ĐT để thực hiện giao dự toán cho những đơn vị.

Sự điều chỉnh này sẽ giảm tải khối lượng công việc cụ thể tại cơ quan tài chính, tạo điều kiện cho cơ quan tài chính tập trung thực hiện chức năng giám sát tài chính đối với những đơn vị, từ đó góp phần tăng hiệu quả chi NSĐP cho GDCL. Đồng thời, do việc phân bổ nguồn lực cho những đơn vị do cơ quan quản lý ngành thực hiện nên sẽ sát với định hướng, mục tiêu nhiệm vụ của ngành.

Để thực hiện được giải pháp này, đòi hỏi Sở GD&ĐT, những phòng GD&ĐT phải tăng cường về số lượng và tăng năng lực chuyên môn của hàng ngũ cán bộ làm mướn tác tài chính.

Thứ ba, mở rộng quyền tự chủ của những đơn vị SNCL ngành giáo dục.

Tăng cường tự chủ của những đơn vị SNCL sẽ giảm được sức ép chi NSNN cho những đơn vị SNCL bằng việc giảm dần mức tương trợ từ NSNN tương ứng với mức độ tự chủ của những đơn vị và tăng hiệu quả chi NSNN cho những đơn vị SNCL thông qua việc ràng buộc trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong sử dụng kinh phí NSNN cấp.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, mang thể tiến tới thực hiện giáo dục buộc phải và miễn phí 9 năm theo xu hướng chung của toàn cầu, nhiệm vụ của NSĐP là đảm bảo toàn bộ nhu cầu kinh phí cho những cơ sở vật chất giáo dục tiểu học và tiến tới đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động của những trường THCS ở địa phương. Đối với những cơ sở vật chất giáo dục này, để tăng cường tự chủ cần tiến tới thực hiện giao dự toán theo số học trò thực tế thực hiện, giao quyền tự chủ cho thủ trưởng đơn vị trong thực hiện những hoạt động quản lý chi tiêu tại đơn vị mình theo đúng quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ.

Đối với những trường măng non, THPT: là những trường mang khả năng xã hội hóa cao, Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ cũng đã quy định “Hạ tầng GDCL thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để bù đắp giá thành huấn luyện”. Chính vì vậy, đối với những trường măng non, THPT cần mang lộ trình điều chỉnh học phí thích hợp theo quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, Quyết nghị số 41/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của HĐND tỉnh Thanh Hóa và khả năng đóng góp của người dân, sự biến động của chỉ số giá tiêu sử dụng để tăng cường huy động đóng góp của người học. Để thực hiện được điều này, những cơ sở vật chất giáo dục phải xây dựng được định hướng phát triển cụ thể, tăng chất lượng giáo dục, tiến tới xây dựng những cơ sở vật chất giáo dục chất lượng cao để khó khăn với những trường ngoài công lập.

Thứ tư, tăng cường công việc rà soát, giám sát đối với chi NSĐP cho GDCL và thực hiện chế độ báo cáo thẩm định giữa kỳ

Tăng cường vai trò rà soát  của cơ quan tài chính:

Để thực hiện tốt chức năng giám sát của tài chính, cơ quan tài chính các ngành ở địa phương cần tăng cường thực hiện công việc rà soát thường xuyên, rà soát định kỳ đối với những hoạt động tài chính của những đơn vị SNGD công lập trên khu vực tỉnh.

Việc rà soát mang thể được thực hiện thông qua giám sát thực hiện nghiêm chế độ BCTC theo quy định của Luật NSNN và những văn bản hướng dẫn thi hành. Thông qua báo cáo của những đơn vị về tình hình thực hiện những mục tiêu về nhiệm vụ chuyên môn; tình hình thực hiện những khoản thu – chi tài chính để phân tích, thẩm định sơ bộ những nội dung về quản lý tài chính tại đơn vị, khả năng thực hiện những nhiệm vụ theo kế hoạch. Trên cơ sở vật chất đó, đề xuất thực hiện rà soát thực tế đối với hoạt động quản lý tài chính của đơn vị lúc cần thiết.

Đồng thời, cần xây dựng kế hoạch rà soát, thẩm định giữa kỳ (định kỳ 06 tháng) và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc để kịp thời phát hiện những sơ sót và hướng dẫn những đơn vị thực hiện những điều chỉnh một cách thích hợp, góp phần thực hiện mục tiêu quản lý tài chính và mục tiêu, nhiệm vụ của ngành.

Tthực hiện tốt công việc tự rà soát tài chính ở những đơn vị dự toán ngành giáo dục

Trong QLNS theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, những đơn vị sử dụng ngân sách được trao quyền tự chủ một cách mạnh mẽ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tài chính; gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ của thủ tưởng đơn vị. Do đó, những đơn vị cần xây dựng được cơ chế kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả để thực hiện giám sát những hoạt động của đơn vị (bao gồm cả giám sát thực hiện hoạt động chuyên môn và giám sát những hoạt động tài chính), đảm bảo việc sử dụng những nguồn tài chính tại đơn vị một cách hiệu quả, gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện những nhiệm vụ của đơn vị để hoàn thành mục tiêu kế hoạch.

Lộ trình thực hiện giải pháp: việc mở rộng quyền tự chủ đối với những đơn vị SNCL ngành giáo dục đã được thiết chế hóa trong những văn bản của Trung ương (Quyết nghị số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành trung ương Khóa XII; Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ…), do đó, mang thể triển khai thực hiện ngay từ năm ngân sách 2019 và niên học 2019-2020. Việc tăng cường rà soát giám sát và báo cáo thẩm định giữa kỳ cũng mang thể thực hiện ngay từ năm ngân sách 2019.

3.2.1.6. Xây dựng hệ thống theo dõi  thẩm định mức độ hoàn thành nhiệm vụ

Trong QLNS theo yếu tố đầu vào, đối tượng theo dõi và thẩm định là những đầu vào và cách thức xử lý những đầu vào. Cách theo dõi này chủ yếu rà soát sự tuân thủ nhưng ko thẩm định được hiệu quả sử dụng nguồn lực. Lúc chuyển sang vận dụng QLNS theo đầu ra và kết quả, cũng cần thiết lập hệ thống theo dõi thẩm định mới. Hệ thống này ko những theo dõi đầu vào, hoạt động mà còn theo dõi và, thẩm định những đầu ra và kết quả đạt được của ngành giáo dục, cả kết quả trước mắt cũng như những tác động trong trung hạn và dài hạn. Việc theo dõi, thẩm định này cho biết chi tiêu ngân sách cho GDCL đã mang lại kết quả như thế nào, mang đóng góp như thế nào đối với việc đạt được những mục tiêu của ngành, từ đó mang thể thẩm định hiệu quả của việc chi tiêu.

Dụng cụ thực hiện theo dõi thẩm định là khung theo dõi, thẩm định. Khung theo dõi thẩm định phải được thiết kế để thấy rõ sự liên kết giữa những mục tiêu của ngành – những đầu ra – hoạt động – đầu vào. Mỗi yếu tố đó cần được xác định một cách rõ ràng, cụ thể; trên cơ sở vật chất đó xây dựng một bộ chỉ số tương ứng để theo dõi, thẩm định với từng mục tiêu, đầu ra, hoạt động và đầu vào. Khung theo dõi thẩm định cũng cần xác định rõ những nguồn dữ liệu/phương pháp thu thập đối với từng chỉ số; phân công trách nhiệm cho những tổ chức trong thu thập và phân tích dữ liệu cũng như xác định rõ thông tin sau lúc tổng hợp sẽ cung ứng cho người nào? Sản xuất lúc nào?

Khung theo dõi thẩm định của ngành giáo dục cần nhất quán với Khung theo dõi thẩm định kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh để mang thể tiện lợi tích hợp những ngành nghề khác.

Vong linh của Khung theo dõi thẩm định chính là Bộ chỉ số theo dõi thẩm định kết quả của ngành giáo dục. Mặc dù Luật NSNN 2015 đã nói tới quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, theo đó, “QLNS theo kết quả thực hiện nhiệm vụ  là việc lập, phân bổ, chấp hành, quyết toán NSNN trên cơ sở vật chất xác định rõ kinh phí ngân sách gắn với nhiệm vụ, nhà cung cấp, sản phẩm cần hoàn thành với khối lượng và chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định”[24]; Chính phủ cũng giao Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết việc quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, tới nay Bộ Tài chính chưa mang văn bản hướng dẫn về quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây cũng là một khó khăn đối với những địa phương lúc thực hiện đổi mới quản lý NSĐP nói chung.

Đối với ngành nghề giáo dục ở địa phương, để thực hiện quản lý chi NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ cần xây dựng được những chỉ tiêuvề kết quả, từ đó xây dựng những chỉ số theo dõi, thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Những chỉ số theo dõi, thẩm định cần tập trung thẩm định hiệu quả và thẩm định hiệu lực chi ngân sách của ngành giáo dục.

Trên cơ sở vật chất kế hoạch phát triển giáo dục địa phương, tiến độ thực hiện những mục tiêu nhiệm vụ, những chỉ số theo dõi, thẩm định mang thể sử dụng như sau:

– Nhóm những chỉ số theo dõi,thẩm định hiệu quả chi NSĐP cho GDCL:

Với những đơn vị sử dụng ngân sách ngành giáo dục, những mục tiêu mang thể sử dụng là:

+ Số lượng học trò hoàn thành chương trình giáo dục của những nhóm lớp theo tiêu chuẩn quy định của Bộ GD&ĐT;

+ Số lượng học trò tốt nghiệp;

+ Số lượng học trò tốt nghiệp các ngành học tiếp tục theo học lên cấp học cao hơn;

+ Tỷ lệ học trò bỏ học;

+ Giá tiền đơn vị trong cung ứng đầu ra của đơn vị tính cho 01 học trò tốt nghiệp hoặc học trò hoàn thành chương trình học của một nhóm lớp (tất cả những khoản giá thành để thực hiện hoạt động giáo dục tính trên 01 học trò trong 01 niên học/khóa học, bao gồm: chi cho con người, giá thành khấu hao TSCĐ, chi phục vụ hoạt động chuyên môn, chi khác);

+ Chi NSĐP cho GDCL tại đơn vị;

+ Chi NSĐP cho GDCL tính trên 01 học trò tốt nghiệp hoặc học trò hoàn thành chương trình học của một nhóm lớp.

Những thông tin này do đơn vị sự nghiệp GDCL cung ứng thông qua những báo cáo thẩm định giữa kỳ, báo cáo cuối kỳ để làm cơ sở vật chất cho cơ quan tài chính, cơ quan GD&ĐT thẩm định mức độ hoàn thành nhiệm vụ lúc quyết toán NSNN hằng năm.

Đối với những địa phương, những chỉ số thẩm định hiệu quả chi NSĐP cho GDCL mang thể được sử dụng là:

+ Số lượng học trò tốt nghiệp các ngành học;

+ Số lượng học trò tốt nghiệp các ngành học tiếp tục theo học lên cấp học cao hơn;

+ Tỷ lệ học trò bỏ học của địa phương;

+ Giá tiền đơn vị trong cung ứng đầu ra của đơn vị tính cho 01 học trò tốt nghiệp ở các ngành học (tất cả những khoản giá thành để thực hiện hoạt động giáo dục tính trên 01 học trò trong 01 niên học/khóa học, bao gồm: chi cho con người, giá thành khấu hao TSCĐ, chi phục vụ hoạt động chuyên môn, chi khác);

+ Chi NSĐP cho GDCL;

+ Chi NSĐP cho GDCL tính trên 01 học trò tốt nghiệp.

Những mục tiêu này được thu thập từ báo cáo tình hình phát triển giáo dục của những quận, thị xã, thành phường lúc những phòng GD&ĐT báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ những năm và là cơ sở vật chất để Sở Tài chính, Sở GD&ĐT phân tích, thẩm định tình hình thực hiện những nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương lúc quyết toán NSĐP hằng năm.

– Nhóm những mục tiêu thẩm định hiệu lực của chi NSĐP cho GDCL:

Để thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện thẩm định trên những tiêu chí: số lượng trẻ 05 tuổi hoàn thành chương trình phổ cập măng non, số học trò tốt nghiệp phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) ở những đơn vị, những địa phương; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi vườn trẻ, mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại những cơ sở vật chất giáo dục măng non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong những cơ sở vật chất giáo dục măng non; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở các ngành học phổ thông; tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, THCS; tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương; tỷ lệ học trò tốt nghiệp THPT học tiếp lên trình độ đại học, giáo dục nghề nghiệp; tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đi học; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên và tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tới 35….

Trên cơ sở vật chất đó, thẩm định những tác động của việc phát triển giáo dục với chất lượng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực thông minh, năng lực thực hiện, năng lực ngoại ngữ và tin học; khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và thời cơ học tập suốt đời cho người dân.

Việc thẩm định cần thực hiện giữa kỳ và cuối kỳ, nội dung thẩm định chuyển từ thẩm định sự tuân thủ sang thẩm định tính hiệu quả và hiệu lực của chi NSĐP cho GDCL thông qua việc thẩm định những đầu ra/kết quả cung ứng nhà cung cấp của những đơn vị ngành giáo dục và những đầu ra đó mang mang lại tác động mong muốn đối với sự phát triển giáo dục của địa phương hay ko.

Tuy nhiên, mang thể thực hiện những cuộc phỏng vấn đối với người học, phụ huynh học trò để thu thập thông tin về những thẩm định của cùng đồng về những tác động của chi NSĐP cho GDCL đối với sự phát triển giáo dục. Sự hài lòng của người học, của phụ huynh học trò đối với nhà cung cấp giáo dục được cung ứng bởi những cơ sở vật chất GDCL thể hiện hiệu lực của chi tiêu NSĐP cho giáo dục.

Lộ trình thực hiện giải pháp: trong lúc trung ương chưa ban hành hướng dẫn chi tiết về quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, địa phương mang thể bước đầu thực hiện kiểm soát đầu ra, thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua thẩm định mức độ thực hiện những mục tiêu học trò đạt chuẩn đầu ra theo quy định ở các ngành học so với mục tiêu kế hoạch đã cam kết đầu năm. Trên cơ sở vật chất đó, thẩm định mức độ thực hiện những mục tiêu của ngành thông qua so sánh với mục tiêu đề ra trong từng mốc thời kì cụ thể (năm 2020, 2025).

Rate this post

Bình luận