Các chính sách có liên quan đến thuế và thị trường bất động sản

Chính sách liên quan tới thuế

Qua phân tích tại Chương 2, chính sách thuế của Việt Nam ứng dụng cho thu nhập đầu tư chứng khoán hiện mang nhiều bất cập so với khu vực và toàn cầu. Việc xây dựng chính sách thuế đối với ngành chứng khoán cần được cân nhắc theo hướng tạo ra cơ chế ưu đãi về thuế hợp lý, nhằm khuyến khích thị trường chứng khoán phát triển hiệu quả và lành mạnh hơn. Thực tế, dòng tiền luân chuyển trên thị trường vốn quốc tế rất linh hoạt giữa những nước. Nếu ko mang chính sách thu hút đầu tư đủ quyến rũ, cụ thể là cơ chế thuế hợp lý sẽ khó thu hút được dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán. Tác giả đề xuất những chính sách mang liên quan tới thuế như sau:

Đối với thuế thu nhập từ cổ tức: Chỉ nên đánh thuế cổ tức đối với những cổ đông ngoài doanh nghiệp và những người nắm giữ nhiều cổ phiếu.Nếu mang thể, ko nên ứng dụng thuế lợi tức, việc huỷ bỏ thuế lợi tức sẽ góp phần ổn định và khuyến khích đầu tư vốn trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và đảm bảo đồng đẳng thu nhập với lãi tiền gửi tiết kiệm tại những nhà băng, vốn vẫn được miễn thuế. Chỉ nên đánh thuế lợi tức lúc điều kiện kinh tế cho phép lúc đã ứng dụng thuế lợi tức đánh vào lợi tức tiền gửi tiết kiệm.

. Mặt khác, quy định đánh thuế đối với nhà đầu tư qua quỹ cao hơn so với hình thức đầu tư trực tiếp làm cho cho những quỹ khó huy động vốn, trong lúc cơ quan quản lý lại muốn khuyến khích mô phỏng đầu tư qua quỹ nhằm gia tăng số lượng nhà đầu tư mang tổ chức với tính giỏi cao trên thị trường. Đây là nội dung quan trong và là yếu tố thành công của quá trình tái cấu trúc TTCK. Để sớm tháo gỡ tình trạng bất cập này của Luật thuế TNCN, Chính phủ cần sửa đổi luật, cũng như nghị định hướng dẫn Luật thuế TNCN để nhà đầu tư thua lỗ sẽ ko phải nộp thuế.

Đối với thuế thu nhập của những tổ chức kinh doanh chứng khoán. Những năm vừa qua, hàng loạt văn bản mới đã được ban hành, qua đó mở đường cho sự ra đời của những sản phẩm đầu tư mới, trong đó mang quỹ mở, quỹ hoán đổi danh mục (ETF) và quỹ hưu trí.

. Do đó, trong thời kì tới, cơ quan quản lý cần bổ sung quy định về vấn đề này như: miễn thuế nhằm tạo sức hút cho quỹ mở thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; nếu chưa thể miễn thuế thì cần điều chỉnh chính sách thuế theo hướng khắc phục tình trạng đầu tư qua quỹ đầu tư đang phải chịu thuế cao hơn so với hình thức trực tiếp đầu tư trên TTCK. Hiện tại, ko mang quy định cụ thể đối với thuế ứng dụng trong trường hợp nhà đầu tư tổ chức nước ngoài chuyển nhượng phần vốn góp tại những quỹ thành viên trong nước. Quy định mức thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán là 0,1% trên trị giá bán, tuy nhiên, hiện mang những loại hình quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ đầu tư thành viên và quỹ đại chúng, quỹ mở. Do đó, nên bổ sung quy định ứng dụng mức thuế khoán 0,1% trên trị giá bán phần vốn góp vào quỹ thành viên.

Hiện nay, REIT là kênh quan yếu thu hút vốn cho ngành bất động sản được nhiều nước trên toàn cầu ứng dụng. REIT mang thể thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào thị trường bất động sản. Tuy nhiên, để quản lý chặt những nguồn vốn vay, Chính phủ cần nghiên cứu, hoàn chỉnh và ban hành bộ luật về quỹ tín thác đầu tư bất động sản, trong đó, tập trung vào một số quy định cần thiết để duy trì hoạt động ổn định của quỹ tín thác này, gồm:

– Ko sử dụng REIT để cho vay;

– REIT phải mang Ban đại diện Quỹ do Đại hội nhà đầu tư bầu chọn;

– Quy định tính sáng tỏ trong báo cáo và công bố thông tin;

– REIT phải mang chính sách thẩm định, thẩm định tài sản trong giao dịch kinh doanh;

– Những thành viên tham gia REIT phải độc lập về lợi ích nhằm đảm bảo mức độ độc lập trong hoạt động của REIT;

– Miễn giảm thuế TNDN.

ii) Cho phép hình thành thị trường thế chấp cầm cố thứ cấp và thực hiện chứng khoán hóa những khoản cho vay thế chấp cầm cố: Hoạt động này nhằm tận dụng vốn đầu tư nội lực từ thế chấp cầm cố bằng bất động sản, là nguồn vốn vay nội lực quan yếu. Đây là hoạt động huy động vống bằng cách sử dụng những tài sản tài chính sẵn mang trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo cho việc phát hành những khoản nợ. Theo đó, những nhà đầu tư sắm chứng khoán nợ chấp nhận rủi ro liên quan tới danh mục tài sản được đem ra làm tài sản đảm bảo.

iii) Để thực hiện điều này, trong thời kì tới cần hoàn thiện khung pháp lý về thị trường tài chính, phát triển thị trường sắm lại, thị trường những sản phẩm phái sinh và cho phép hình thành những tổ chức xếp hạng tín nhiệm mang uy tín và năng lực.

Phát triển trái phiếu dự án, để phát hành trái phiếu bất động sản thành công thì cơ quản lý nhà nước cần thực hiện mạnh mẽ và đảm bảo những điều kiện như:

– Bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư lúc mang tranh chấp;

– Rà soát, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ những tiêu chí dự án, nhằm đảm bảo dự án huy động vốn là khả thi, sản phẩm quyến rũ, triển khai đúng tiến độ;

– Khuyến khích những doanh nghiệp kết hợp với những tổ chức bảo lãnh phát hành giỏi, uy tín và đặc trưng mang đủ năng lực tài chính;

– Khuyến khích phát hành trái phiếu chuyển đổi kèm với quyền sắm căn hộ với một tỷ lệ chiết khấu tương đối.

Rate this post

Bình luận