Lý thuyết trật tự phân hạng đổi trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Lý thuyết trật tự phân hạng được đề xuất bởi Gordon Donaldson (1961) và hoàn thiện bởi Stewart C.Myers và Nicolas Majluf (1984). Giả thuyết của lý thuyết bao gồm: (i) Tồn tại vấn đề bất tương hợp thông tin giữa nhà quản trị DN và nhà đầu tư bên ngoài; (ii) Nhà quản trị DN sẽ hành động vì lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu hiện hành.

Lý thuyết này ko đi tìm cơ cấu vốn đầu tư tối ưu mà thay vào đó đi xác định một thứ tự ưu tiên trong việc lựa chọn vốn đầu tư trong quyết định tài trợ. Theo lý thuyết này, DN ưa thích lựa chọn tài trợ bằng vốn đầu tư bên trong hơn so với vốn đầu tư bên ngoài. Trong trường hợp phải lựa chọn vốn đầu tư bên ngoài, DN sẽ lựa chọn theo một thứ tự sao cho đạt được mục tiêu tối thiểu hoá sự gia tăng giá tiền do thông tin bất đối xứng. Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng những nhà quản trị DN sẽ sở hữu lợi thế hơn nhà đầu tư bên ngoài trong việc biết nhiều thông tin về triển vọng, rủi ro và trị giá DN.

Thứ tự ưu tiêu trong lựa chọn vốn đầu tư bao gồm: (1) Vốn đầu tư bên trong; (2) Nợ vay; (3) Vốn góp của chủ sở hữu.

Nợ vay được lựa chọn trước vốn góp của chủ sở hữu vì: (i) Giá tiền sử dụng nợ vay thấp hơn so với giá tiền sử dụng vốn chủ sở hữu. Do vậy, quyền kiểm soát của chủ sở hữu hiện tại ko bị phân tán, san sẻ; (ii) Mặc dù nhà quản trị DN sở hữu trách nhiệm phân phối thông tin DN cho chủ nợ. Tuy nhiên, vấn đề thông tin bất tương hợp mang lại lợi thế cho DN để phát đi những tín hiệu tích cực rằng những khoản đầu tư đang được kỳ vọng mang lại lợi nhuận cao và nhà quản trị muốn tận dụng lợi thế của đòn bẩy tài chính

Vốn góp của chủ sở hữu là lựa chọn cuối cùng vì: (i) Giá tiền sử dụng vốn chủ sở hữu cao và sự lựa chọn nguồn tài trợ này thường phát đi tín hiệu tiêu cực; (ii) Những cổ đông tiềm năng sẽ tạo ra thách thức cho trị giá thực của cổ phiếu do họ phải tùy thuộc vào thông tin do nhà quản trị phân phối, cổ đông thư̛ờng yêu cầu một mức giá thấp đối với cổ phiếu được phát hành mới vì họ ko thể vững chắc cổ phiếu được thẩm định đúng trị giá thực.

Qua nghiên cứu một số lý thuyết về cơ cấu vốn đầu tư, một số kết luận được rút ra như sau:

Thứ nhất, quy mô và tỷ trọng nợ vay đóng vai trò quan yếu trong việc lựa chọn cơ cấu vốn đầu tư tối ưu. Mặc dù sử dụng nợ vay sở hữu thể làm gia tăng mức độ rủi ro tài chính của DN trong hoạt động kinh doanh nhưng nếu sử dụng hiệu quả sở hữu tác dụng khuyếch đại tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Việc hoạch định cơ cấu vốn đầu tư tối ưu nhất thiết phải nắm vững nguyên tắc về sự thăng bằng giữa lợi ích và rủi ro. Cơ cấu vốn đầu tư tối ưu là mức cơ cấu mà tại đó rủi ro và lợi ích của việc sử dụng nợ vay được thăng bằng và là mức cơ cấu tác động làm tránh rủi ro tài chính, tối thiểu hoá giá tiền sử dụng vốn bình quân và tạo ra sự tối đa hoá trị giá DN.

Thứ hai, trong thực tế việc xác định một cơ cấu vốn đầu tư tối ưu là điều khó khăn do sự biến động đối với tình hình kinh doanh cũng như sự khác nhau về đặc điểm kinh doanh giữa những ngành nghề, ngành nghề. Bởi vậy, thực tiễn khái niệm cơ cấu vốn đầu tư mục tiêu thường được sử dụng. Cơ cấu vốn đầu tư mục tiêu là cơ cấu vốn đầu tư được xác định dựa trên những lý thuyết của cơ cấu vốn đầu tư tối ưu và sở hữu sự cân nhắc giữa những yếu tố rủi ro tài chính, tỷ suất sinh lời trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Lúc điều kiện và hoàn cảnh kinh tế sở hữu sự thay đổi thì cơ cấu vốn đầu tư mục tiêu cũng sở hữu sự thay đổi. Yêu cầu đặt ra đối với từng doanh nghiêp là phải xác định một cơ cấu vốn đầu tư mục tiêu cho DN của mình trong từng thời kỳ để công việc tổ chức, huy động và sử dụng vốn đầu tư luôn hướng tới cơ cấu vốn đầu tư mục tiêu này.

Rate this post

Bình luận