Kim ngạch xuất khẩu gạo ở Việt Nam

1. Kim ngạch xuất khẩu:

Gạo là sản phẩm chủ yếu của nền nông nghiệp Việt Nam. Ko phải chỉ vài năm sắp đây nước ta mới mang gạo xuất khẩu, mà thực tế gạo Việt Nam đã xây dựng thương hiệu toàn cầu hàng trăm năm nay. Ngay từ năm 1880, những tỉnh Nam Bộ đã xuất khẩu 284.000 tấn gạo, năm 1884 Bắc Bộ xuất 5.376 tấn. Trong thời kỳ từ năm 1926 tới năm 1936 Việt Nam đã xuất 8,2 triệu tấn gạo. Năm 1960 những tỉnh miền Nam xuất 340.000 tấn. Nhưng thời kì sau đó, chiến tranh liên miên, dân số phát triển quá nhanh, đất canh tác lại hạn chế, nhà nước chưa mang chính sách khuyến khích thoả đáng đối với nông nghiệp, cho nên Việt Nam trong nhiều năm liên tục phải nhập khẩu gạo từ năm 1976 tới năm 1988. Từ năm 1989 nhờ mang chính sách lương thực đúng đắn mà tình hình sản xuất và thương nghiệp về lương thực, thực phẩm mang sự thay đổi to. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực chúng ta chuyển sang xuất khẩu gạo.

Từ năm 2001, nhà nước bỏ hạn ngạch xuất khẩu gạo và ko qui định đầu mối xuất khẩu gạo. Cơ chế mới này tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi mang tính đồng đẳng tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu gạo tăng trưởng ổn định. Năm 2005, xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng kỷ lục cả về khối lượng lẫn kim ngạch. Năm 2006, xuất khẩu gạo cả nước chỉ đạt khoảng 4,7 triệu tấn gạo đạt kim ngạch sắp 1,3 tỷ USD, ko đạt tiêu chí 5 triệu tấn đề ra. Nguyên nhân chính là do dịch bệnh gây thất bát ở phía Nam làm cho Chính phủ phải tạm ngưng xuất khẩu trong tháng cuối năm. Mặc dù chỉ mới được xuất khẩu gạo trở lại từ tháng 2 năm nay nhưng những doanh nghiệp đã nhanh chóng ký kết được những hợp đồng xuất khẩu hơn 3 triệu tấn gạo (tiêu chí xuất khẩu gạo năm nay từ 4 – 4,5 triệu tấn) với mức giá cao nhất trong nhiều năm nay. Năm 2006, Việt Nam xuất khẩu 4,7 triệu tấn gạo đem về sắp 1,3 tỉ USD thì 8 tháng đầu năm 2007 tuy mới xuất khẩu 3,6 triệu tấn gạo nhưng đã đem về 1,15 tỉ USD. Điều này cho thấy đây là năm mà giá gạo xuất khẩu đạt mức cao.

Về xu hướng, giá gạo trong nước cũng như toàn cầu vẫn tiếp tục tăng lên bởi hàng loạt những lý do: Thứ nhất là do diện tích trồng lúa ở VN đang bị thu hẹp lại bởi tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thành thị hoá… Thứ hai là hiệu quả của việc trồng lúa ko cao, nên người nông dân bỏ canh tác, việc này đã diễn ra ở những vùng đồng bằng những tỉnh phía bắc. Thứ ba là tỉ lệ tăng dân số hàng năm của mỗi quốc gia đều đang cần nguồn lương thực, trong lúc nguồn cung ko tăng. Thứ tư là yếu tố thiên tai, bão lụt thất thường, nhất là trong tình trạng khí hậu toàn cầu đang nóng lên như hiện nay đã tác động rất to tới hoạt động gieo trồng lương thực và tác động to tới giá lương thực. Và vấn đề thứ năm là điều rất mới, đó là trên toàn cầu khởi đầu xuất hiện khoa học chế biến cồn từ ngô (bắp) và sắn (khoai mì) để làm nhiên liệu tiêu dùng cho động cơ. Việc sử dụng khoa học khoa học này tiêu dùng một lượng sắn, ngô rất to sẽ tác động tới tình hình lương thực toàn cầu. Dự đoán mang thể ngay trong năm tới, giá sắn lát và ngô sẽ tăng khoảng trên 100%.

2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:

Gạo 5% tấm, 25% tấm, 15% tấm… tiếp tục là những chủng loại xuất khẩu nhiều nhất của nước ta trong năm 2006. So với năm 2005, xuất khẩu gạo 5% tấm và 15% tấm tăng tuần tự về lượng là 13,10% và 5,91%; về trị giá là 17,12% và 4,85%; chủ yếu xuất sang những thị trường Malaysia, Angola, Bờ Biển Ngà, Cuba, Indonexia, Philipine. Trái lại, xuất khẩu gạo 25% đã giảm 9,50% về lượng và giảm 5,89% về trị giá so với năm 2005.

Trong năm 2006, kế bên việc xuất khẩu một số chủng loại như gạo tám, gạo 35% tấm, gạo thơm 100% tấm… mang mức tăng trưởng khá cao, thì xuất khẩu những loại như gạo giống Nhật 5% tấm, gạo lứt, gạo 10% tấm lại giảm so năm 2005.

3. Thị trường xuất khẩu:

Philippine, Malaysia, Cuba, Indonexia và Bờ Biển Ngà tuần tự là năm thị trường nhập khẩu gạo to nhất trong năm 2006 của nước ta. Riêng xuất khẩu tới Philippin đã đạt hơn 1,5 triệu tấn, sắp bằng 1/3 trong tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, và cao hơn hẳn (gấp 3 lần) so với khối lượng xuất khẩu tới thị trường to tiếp theo là Malaixia. Tuy nhiên, giá xuất khẩu tới Philippin trong năm qua ko được cao, trong lúc khối lượng xuất khẩu tăng 15% so với năm 2005 thì kim ngạch thu được lại giảm hơn 7%. Trong lúc đó, xuất khẩu sang Indonexia đạt mức tăng trưởng cao, tăng tới 245,8% về lượng và tăng tới 283,1% về trị giá so năm 2005. Trái lại, xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà lại giảm 35,3% về lượng và giảm 31,7% về trị giá so năm 2005..

Ngoài ra, xuất khẩu gạo của ta trong năm 2006 sang một số thị trường như Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc, Đài Mortgage, Georgia, Litva, Mỹ… cũng tăng mạnh. Trái lại, xuất khẩu sang Etiôpia, Hà Lan, Xenegan, Modambic… lại giảm khá mạnh so năm 2005.

Xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2007 ko đạt tiêu chí bởi nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN bị giảm kim ngạch tăng trưởng. Trước nhất phải kể tới gạo. Trong 6 tháng đầu năm, gạo VN xuất khẩu đã giảm 5% về trị giá, 18% về lượng so với năm 2006. Hầu hết những thị trường chính của gạo VN đều bị giảm mạnh, cụ thể: Nga (giảm 75%), Cuba (giảm 67%), Nam Phi (giảm 58%), Nhật Bản (giảm 52%), Philippines (giảm 44%), Trung Hoa (giảm 40%). Gây thất vọng ko kém là xuất khẩu giày dép, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực lâu năm của VN nhưng tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này chỉ đạt 11%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là 21%.

Nguyên nhân của sự mất “tư thế” này là do những vụ kiện chống bán phá giá làm cho cho thị trường EU, thị trường chính chiếm tới sắp 80% trong tổng kim ngạch toàn ngành giảm xuống chỉ còn khoảng 50 – 60%.

4 Khó khăn:

Kế bên niềm vui, nhìn vào ngành gạo Việt Nam vẫn còn canh cánh những nỗi lo. Đó là, tuy Việt Nam xuất khẩu gạo to thứ 2 toàn cầu, nhưng chỉ xếp thứ 3, thứ 4, nếu xét về trị giá xuất khẩu. Việt Nam phải bán gạo rẻ vì hệ thống chế biến và tiếp thị yếu. Mặt khác, tuy nông dân Việt Nam đã đạt mức kỷ lục về năng suất, sản lượng lúa và lợi nhuận tính theo ha, track do hầu hết nông dân đều trồng lúa trên diện tích nhỏ nên ko thể thoát nghèo – nếu chỉ trồng lúa. Một nghịch lý đáng chú ý lâu nay là nhiều doanh nghiệp nước ngoài sắm gạo, cà phê, chè, ca cao, tiêu, điều của Việt Nam chế biến lại bán giá cao gấp nhiều lần.

Một khâu yếu khác, cho tới hiện tại trên thương trường quốc tế chưa mang thương hiệu hoặc nhãn hiệu gạo nổi tiếng đặc trưng cho gạo Việt Nam. Trong lúc, những thương hiệu gạo “hoa nhài – Jasmine”, gạo Basmani đã được gắn liền với tất cả các nước sản xuất là Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan trên thị trường toàn cầu.

gạo Việt Nam ko được trả giá cao là do “ko rặt một thứ, pha trộn tùm lum”. Một trong những lý do quan yếu là người nông dân ko kết nối trực tiếp được với doanh nghiệp xuất khẩu. Nông dân chủ yếu bán gạo cho thương lái. Mà thương lái lại ko để nguyên hoặc chia từng loại, sắm của rất nhiều nơi về trộn lại với nhau rồi mới bán. Thêm vào đó Việt Nam chưa mang những đơn vị mang năng lực to thực sự. Chẳng hạn tầm cỡ như đơn vị xuất khẩu gạo V ở nước mình, ko mang nhiều nhà máy, lúc thỏa thuận thì rải ra thu gom nhiều nơi, gạo ko cùng giống, chất lượng ko đồng nhất là vậy.

 

Rate this post

Bình luận