Khả năng thanh toán của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết ở Việt

Khả năng trả tiền phản ánh khả năng đáp ứng nghĩa vụ đối với những khoản nợ vay tới hạn của DN. Khả năng trả tiền của DN ở mức cao sẽ phản ánh tình hình tài chính lành mạnh, rủi ro kiệt quệ tài chính và nguy cơ vỡ nợ thấp; khả năng tiếp cận nguồn tài trợ từ nợ vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư vào những dự án sẽ gặp thuận lợi. Để phân tích khả năng trả tiền của DN, tác giả sử dụng những hệ số trả tiền sau: (i) Hệ số khả năng trả tiền hiện thời (KNTT hiện thời); và (ii) Hệ số khả năng trả tiền nhanh (KNTT nhanh).

Biểu đồ 2.3 cho thấy khả năng trả tiền đối với 2 hệ số KNTT hiện thời và KNTT nhanh với chiều hướng biến động tương đồng nhau. Trong giai đoạn 2012-2015, những hệ số trả tiền đều với chiều hướng gia tăng; trong giai đoạn 2015-2017, những hệ số trả tiền đều với chiều hướng sút giảm. Cụ thể, hệ số KNTT hiện thời tăng từ mức 1,93 lần năm 2012 lên 2,59 lần năm 2015 và giảm xuống 1,83 lần năm 2017; hệ số KNTT nhanh tăng từ mức 1,76 lần năm 2012 lên 2,31 lần năm 2015 và giảm xuống 1,65 lần năm 2017. Bình quân những hệ số khả năng trả tiền trong giai đoạn nghiên cứu tuần tự là: 2,13 lần (đối với hệ số KHTTHT); 1,93 lần (đối với hệ số KNTTN).

Đối với nhóm CTCP quy mô to (Phụ lục 3): Những hệ số khả năng trả tiền với chiều hướng gia tăng trong giai đoạn 2012-2015 và sút giảm trong giai đoạn 2015-2017. Trong giai đoạn 2012-2015, hệ số KNTT hiện thời tăng từ mức 1,98 lần lên 2,63 lần; hệ số KNTT nhanh tăng từ mức 1,8 lần lên 2,33 lần. Trong giai đoạn 2015-2017, hệ số KNTT hiện thời giảm từ mức 2,63 lần xuống 1,78 lần; hệ số KNTT nhanh giảm từ mức 2,33 lần xuống 1,57 lần.

Đối với nhóm CTCP quy mô trung bình (Phụ lục 3): Hệ số KNTT hiện thời và hệ số KNTT nhanh với chiều hướng biến động tương đồng nhau. Trong giai đoạn 2012-2015, hệ số KNTT hiện thời tăng từ mức 1,82 lần lên 2,54 lần hệ số KNTT nhanh tăng từ mức 1,67 lần lên 2,36 lần. Trong giai đoạn 2015-2017, hệ số KNTT hiện thời giảm từ mức 2,54 lần xuống 1,78 lần, hệ số KNTT nhanh giảm từ mức 2,36 lần xuống 1,66 lần.

Đối với nhóm CTCP quy mô (Phụ lục 3): Hệ số KNTTHT và hệ số KNTTN với chiều hướng biến động gia tăng. Cụ thể, hệ số KNTTHT tăng từ mức 1,80 lần năm 2012 lên 2,85 lần năm 2017; hệ số KNTTN tăng từ mức 1,64 lần năm 2012 lên 2,58 lần năm 2017.

Qua phân tích khả năng trả tiền của những CTCP ngành điện niêm yết, với thể nhận thấy: Khả năng trả tiền của những CTCP ngành điện niêm yết hiện ở mức cao. Bình quân giai đoạn nghiên cứu, hệ số KNTT hiện thời là 2,13 lần và hệ số KNTT nhanh là 1,93 lần. Điều này cho thấy khả năng tiêu dùng những tài sản ngắn hạn để tạo ra nghĩa vụ nợ ngắn hạn của những DN hiện ở mức cao, nguy cơ mất khả năng trả tiền thấp, rủi ro tài chính của DN ở mức thấp. Tuy nhiên, nếu so sánh với mức trung bình ngành thì hệ số KNTT hiện thời và hệ số KNTT nhanh của những CTCP ngành điện niêm yết đều cao hơn so với mức trung bình ngành (mức trung bình ngành đối với hệ số KNTT hiện thời là 1,17 lần và hệ số KNTT nhanh là 0,97 lần). Tương tự, điều này cho thấy lượng tài sản ngắn hạn của những DN hiện đang ở mức cao sẽ làm gia tăng mức giá thời cơ trong việc sử dụng những tài sản này và tác động làm cho mức giá sử dụng vốn của DN gia tăng.

Rate this post

Bình luận